• Series bài dịch từ bản tiếng Anh chính thức của cuốn Dressing the Man, tác giả Alan Flusser; do Dexterlegant thực hiện với sự giúp sức của các cá nhân: Nhân Nguyễn, Nhân Lê.
  • Sách có độ dày 320 trang, phần nội dung chính dự trù là 13 vạn chữ, sẽ được chia ra Post thành nhiều phần theo sự biên tập của Dexterlegant.
  • Dexterlegant xin phép lược bỏ phần Lời mở đầu của cuốn sách và bắt đầu dịch từ chương đầu tiên
  • Bản dịch hướng tới việc bám sát bản gốc nhất có thể, cả về nội dung, hình thức trình bày và hình ảnh minh họa.
  • Đây là bản dịch không chính thức, không được kiểm duyệt bởi tác giả hay bất kỳ cơ quan/ tổ chức có chuyên môn thẩm quyền nào.
  • Dự án này do cá nhân Dexterlegant triển khai, không có bất kỳ mối liên quan nào tới vấn đề phát hành, quảng cáo, biên soạn của tác giả.

 

FOOT DECORUM 

PHẦN IV

 

THE SLIP-ON MOCCASIN:

 

 

Khi cá dự trữ ít hơn kế hoạch, những ngư dân Norwegian đã vượt qua thời gian khó khăn này bằng cách khâu những đôi giày cùng các nông dân. Một vài đôi “Norwegian” được xuất khẩu và bán ở nước Anh, và suốt những năm 30, người Mĩ du lịch London đã phát hiện ra những đôi giày nhập khẩu này- một đôi slip-on với phong cách moccasin ở trước.

Kỳ lạ thay, Norwegian chứ không phải người Indian đã tạo cho moccasin một động lực lớn như là thời trang thường ngày. Trước đây, Indian moccasin xuất hiện đa phần như những đôi giày cắm trại đế mềm hay những đôi giày cho phòng ngủ. Thiết kế của Norwegian là sự sao chép đầu tiên ý tưởng của những người Mĩ năng động với việc thêm vào một mảnh da để che đi phần trước của bàn chân và khâu tay để kết hợp phần đế và da mặt.

Với sự trợ giúp của ngành đánh bắt cá ở địa phương, Norwegian bắt đầu sản xuất những đôi slipper dùng cho giải trí, được đưa tới Continental resorts và các thành phố châu Âu. Người Mĩ đến thăm các nhà xưởng và mua chúng về, mô phỏng lại mẫu nguyên bản của người Indian. Đây là một người đàn ông, Jimmy Stewart, đi một đôi Weejuns

Giữa những năm 30, công ty G.H.Bass đăng ký cái tên “Weejun”, kèm với nó là mũi moccasin và họa tiết kim cương, trở một một trong những mẫu giày được công nhận nhất trong thời đại mới, cũng được biết đến như là penny loafer. Ban đầu nó là một đôi giày mùa hè mặc quanh nhà, slip-on phong cách Weejun trở thành đôi giày được mặc quanh năm, trong tủ giày casual. Ngày nay nhà làm boots J.M.Weston và John Lobb sản xuất những đôi giày càng sát với “pennies from heavens” càng tốt.

 

THE TURF OF CHUKKA BOOT:

 

 

Phong cách này được lấy cảm hứng từ rất nhiều nơi, tuy nhiên ngày nay nó vẫn được làm đúng với nguyên mẫu của nó, những đôi boot ngang cổ chân 2 mắt. Nguyên bản được mang đến phương tây từ Ấn Độ bởi British Raj, người đã đặt tên cho nó là “chukka”, sau một thời gian chơi polo. Thường làm không lót và ôm với đế da hay cao su, đôi giày này thường được thấy đi cùng với quần flannel hay nhung gân, cũng như những đôi da bê smooth-tan hay các sắc thái của da lộn. Những chiếc mũ sa pô Tyrolean, Scottish Shetland sportcoat, và những chiếc quần moleskin của Anh, bộ trang phục này được những người lịch sự tái khẳng định bằng đẳng cấp quốc tế của những đôi chukka.

 

THE GUCCI SLIP-ON:

 

 

Như phần gót đỏ của vua Louis XIV và các cận thần tạo nên một không khí quý tộc, những đôi loafer của Gucci chỉnh tề với phần khóa hình dây cương vương giả, tiếp tục tạo nên sự thanh lịch. Dù là da nâu, cho thế giới của gray flannel suit hay da lộn đen với phần đế dùng cho ăn mặc ở thành thị, Gucci loafer vẫn là một trong những đôi giày mềm mại nhất, thoải mái nhất dù là trong hay ngoài thành phố.

Năm 1966, House of Gucci hồi sinh những đôi slip-on nổi tiếng của họ, sinh ra nhiều sự bắt chước hơn bất kỳ phong cách giày nam nào. Đầu những năm 70, các nhà đầu tư phố Wall đề cử bộ suit chalk stripe của họ với Turn-bull & Asser spread collar, Hermes four-in-hand và slip-on của Gucci. Rất ít thiết kế giày nam sinh tồn được với sự biến động của đỉnh cao thời trang, nhưng hơn 30 năm sau, phần khóa của Gucci đã viết nên một hành tình bền bỉ. Douglas Fairbanks Jr tạo dáng trong khi mang biểu tượng của ngành thủ công nước Ý này.

 

THE WHITE BUCK

 

 

Không có chủ đề nào về giày nam tiêu biểu ở thời hậu chiến về sự thoải mái hơn là những đôi white bucks của người Mĩ. Phần trầy xước nhẹ đem lại cho chúng hình ảnh một cá tính than thuộc, đặc trưng bởi thời trang natural-shoulder vùng đồng quê. Độc đáo như tính cách của người Mĩ, những đôi oxford bằng da trắng với đế đỏ lần đầu phục vụ như là một trang phục thoải mái cho mùa hè, với trang phục cho các resort từ đầu những năm 30. Sau này, những khách du lịch tháo vát khám phá ra sự tiện lợi của da lộn thích hợp với các vỉa hè ẩm ướt khi nằm dưới các chất liệu như gabardine, seersucker hay tropical worsted suit.

Brother Brook đã tạo nên điều tiên quyết cho những đôi white bucks ở Anh. Họ là một công ty hoàn hảo với truyền thống của những chiếc quần khaki hay madras Bermudas. Không may, Brook’s British nguyên gốc với độ casual khác nhau, vội vàng rút lui khỏi những di sản được bảo vệ truyền đời. Đây là nhà thiết kế trang phục nổi tiếng của Holywood, Adrian, đang tận hưởng sự sang trọng ngọt ngào của đôi buck mà anh đang mang.

 

THE SPECTATOR:

 

 

Nhà làm boots nổi tiếng nước Anh John Lobb, yêu cầu thiết kế đôi spectator đầu tiên cho trận cricket vào năm 1868. Ứng cử viên của nó là một đôi giày tương phản với những vùng da tối ở gót giày, nơi buộc dây, mũi, và da mặt- với thiết kế ban đầu theo cách này, nó có thể chịu được sự khắc nghiệt của các hoạt động thể thao.

Vào thời đại của nhạc Jazz, đôi giày này được biết đến như là “giày phóng viên”. Thiết kế nguyên bản của nó là da bê nâu và da trắng hay da lộn, với da bê đen thường được phân biệt với da nâu. Là phần cần thiết cho những người chơi du thuyền vào những năm 30 hay tủ đồ của các môn thể thao vào kỳ nghỉ, những đôi giày hai tone màu tương phản bất thường này với hiệu ứng hay màu sắc, được biết đến ở Mĩ với tên gọi “spectator”.

 

 

Các ngành thương nghiệp, các nhà sản xuất hiện đại đã thay thế những đôi giày da lộn trắng đi trước với loại da tổng hợp rẻ tiền hơn, giảm bớt đi sự sang trọng của đôi giày cổ điển mùa hè này.

 

THE DRESS SLIPPER

Thật khó để nói một cách chính xác thời gian hay địa điểm mà kiểu David Niven có thể ra khỏi nhà hay những club với một đôi slipper thanh lịch, như là một dịp để theo sát gót chân những chuyến du ngoạn đầu tiên của những chiếc dinner jacket hiện đại.

Không giống những nguyên bản khác được đưa ra bởi hoàng gia hay giới thượng lưu, những đôi dress slipper cho nam không bao giờ gây chú ý ở những nơi công cộng. Ngoài ra, với chi phí giống như một món trang sức hay vật trang trí, Albert slipper hiếm khi vượt ra khỏi đời sống trung lưu. Một phần thanh lịch của nó xuất hiện ở bên trong. Nó cũng cần thêm sự tự tin từ taste của riêng mỗi người.

Slipper là một loại giày, nó không thuộc một phong cách riêng biệt nào, bao gồm nhiều biến thể giày với nhiều cách dùng. Slipper, với loại dưới cổ chân, được xỏ vào và giữ bởi bàn chân mà không cần buộc dây. Pump là một loại slipper, giống như đôi hài Oriental với phần mũi hếch lên.

 

 

Đây là Cecil Beaton và quý bà ngoại cỡ nóng bỏng nhất, Elsa Maxwell, đang dạo chơi ở Antibes Ball, phía nam nước Pháp vào năm 1935. Bộ trang phục Beaton đnag mặc thực sự xứng đáng công sức thử nghiệm, làm nhẹ đi các dress code. Giống như một trong những bức ảnh huyền thoại, khi anh ấy đã thấm nhuần như một người thượng lưu với ánh hào quang tô điểm cho vẻ quyến rũ, Beaton đã thành công dress down với một bộ bespoke suit, classic T-shirt, một đôi pump đen. Ngài Cecil tương lai đã vượt trên cả không gian và thời gian, để trở thành hình mẫu song hành với những trang phục mà ông đang mang: phong cách thời trang vĩnh cửu.

– Hết phần IV