• Series bài dịch từ bản tiếng Anh chính thức của cuốn Dressing the Man, tác giả Alan Flusser; do Dexterlegant thực hiện với sự giúp sức của các cá nhân: Nhân Nguyễn, Nhân Lê.
  • Sách có độ dày 320 trang, phần nội dung chính dự trù là 13 vạn chữ, sẽ được chia ra Post thành nhiều phần theo sự biên tập của Dexterlegant.
  • Dexterlegant xin phép lược bỏ phần Lời mở đầu của cuốn sách và bắt đầu dịch từ chương đầu tiên
  • Bản dịch hướng tới việc bám sát bản gốc nhất có thể, cả về nội dung, hình thức trình bày và hình ảnh minh họa.
  • Đây là bản dịch không chính thức, không được kiểm duyệt bởi tác giả hay bất kỳ cơ quan/ tổ chức có chuyên môn thẩm quyền nào.
  • Dự án này do cá nhân Dexterlegant triển khai, không có bất kỳ mối liên quan nào tới vấn đề phát hành, quảng cáo, biên soạn của tác giả.

 

FORMALWEAR

PHẦN I

 

CHAPER 12: FORMALWEAR

Nếu bộ suit của đàn ông được coi là món đồ đẹp nhất vào ban ngày, formalwear lại cần lên tiếng vào buổi tối. Khi ta mặc đúng, những bộ trang phục white/black-tie cổ điển giúp người đàn ông trở nên hấp dẫn một cách lịch thiệp nhất. Màu sắc trắng và đen vốn đóng vai trò làm nền cho những bộ đồ lộng lẫy nhiều màu sắc hơn của phái nữ.

Trong thế giới thời trang, vẫn chưa có sự thay thế nào đủ thanh lịch so với black/white-tie. Dù rằng tailcoat và trang phục white-tie không còn quá phổ biến, những chiếc dinner jacket đồng hành cùng đồ black-tie luôn có vị trí quan trọng trong tủ đồ của người đàn ông thành thị.

 

TELLING TAILS: THE HISTORY

Tailcoat hiện đại bắt nguồn từ George Bryan “Beau” Brummell nổi tiếng. Trong khi những tay chơi khác cùng thời ông mặc những chiếc áo khoác màu sắc cùng quần breech (một loại quần ôm) vào ban đêm, Brummell xuất chúng đã mặc một chiếc Swallowtail coat màu navy, quần breech đen, waistcoat màu trắng và sơ mi cổ trắng, bản 15cm do ông tự sáng tạo ra. Khi thời đại của các tay chơi (dandy) gần kết thúc, tất cả người London chuyển sang mặc những bộ đồ đơn giản, tối màu và rũ bỏ phong cách dandy.

Tailcoat chỉ thay đổi một chút so với nguyên bản, là một chiếc áo khoác mặc khi cưỡi ngựa (riding coat) trong nửa cuối thế kỷ 18. Mặt trước của phiên bản hai hàng khuy đã được cắt bớt vì khá cồng kềnh khi đi bộ cũng như cưỡi ngựa. Tailcoat hiện đại không cài khuy ở mặt trước, vẫn duy trì 3 khuy ở hai bên vạt ngắn của áo, cùng một đường xẻ tà và khuy ở phần lưng, vết tích thời gian từ hồi nó còn được dùng để đeo gươm hay cài cúc ở phần đuôi áo khi đi bộ hay cưỡi ngựa.

Đóng vai trò là một biểu tượng tinh hoa của sự trang trọng Anh quốc nổi tiếng, bộ trang phục này đại diên cho tiêu chuẩn của sự thanh lịch, đặt ra bởi những quý ông người Anh. Chỉ cần các nhà may áp dụng tỉ lệ của áo cho phù hợp vóc dáng của người mặc, vậy là những người đàn ông ngoại hình trung bình biến hình thành các ngôi sao điện ảnh dẫn đầu thời trang của Hollywood như Adolphe Menjou.

THE TAILCOAT:

Tailcoat trước đây giống như hãng xe Fords vậy:  sản phẩm đã quá đáng tự hào nên hiếm khi phải thay đổi. Với phần đuôi áo thẳng băng dài tới đầu gối và vạt trước chạm xương chậu, tailcoat ôm khít với phần ngực như là đang cài cúc vậy. Một người với chiều cao trung bình trông đẹp nhất khi mặc một chiếc tailcoat có phần ngực đầy đặn. Ve nhọn (peak) bắt buộc của áo không nên quá nhỏ và nên có bề mặt được làm bằng lụa grosgrain hay satin cùng với cổ áo bằng vải thường. Chiều dài lưng áo nên thấp hơn khoảng 1 inch (~2,5cm) so với đường cong của đầu gối. Hai bên của áo cong nhẹ theo phần hông, phủ xuống xuôi tới phần đuôi áo và không sử dụng gì khác để giữ form ngoại trừ kỹ thuật bậc thầy của người thợ may.

Phần cổ áo cần che kín được khu vực cúc cài đằng sau của cổ áo sơ mi và mặt sau của nơ, để lộ ít nhất là ¾ inch (1,9cm) với áo có wing collar (một loại cổ áo trong formalwear). Khi đang khiêu vũ và khuỷu tay giơ cao, áo ngoài không được để lộ ra phần hông của áo waistcoat (ghi lê). Phần trước của áo phải dài tới qua đoạn eo tự nhiên/thắt lưng (natural waistline) và không có phần nào của chiếc waistcoat được dài hơn khoảng đó. Tay áo cần được may gọn gàng, không chật quá để tương xứng với độ rộng của phần cổ tay sơ mi. Chiều dài phải vừa đủ để tay áo sơ mi lộ ra khoảng ¾ inch (1,9cm). Tay áo gồm 4 khuy đặt sát nhau.

 

 

THE FULL-DRESS WAISTCOAT

Quy tắc ăn mặc trang trọng yêu cầu có một chiếc waistcoat màu trắng, cứng, bề mặt vải dệt bird-eye backle (piqué), kèm theo thiết kế một hoặc hai hàng khuy. Mẫu truyền thống nhất là một hàng khuy với cổ shawl, 3 khuy. Phần cạnh dưới cùng của ve áo có thể là dáng vuông, tròn hay tù, vạt trước tạo thành hai đỉnh nhọn đối xứng. Dù vậy vẫn có chút linh hoạt, như quý ngài Mũ cao, Nơ trắng và Áo Đuôi tôm, Fred Astaire, minh họa. Ở đây ông mặc một bản sao của mẫu được thương hiệu sơ mi hoàng gia Hawes and Curtis làm riêng cho Hoàng tử Xứ Wales, mà theo chuyện kể, họ đã lịch sự từ chối làm mẫu này cho Ngài Fred.

 

 

Chiếc waistcoat với phần vạt “V” sâu cần được cắt may hoàn hảo sao cho vạt trước trước ôm gọn đủ che được sơ mi và waistband (phần đai lưng) của quần, mà không được dài hơn vạt trước của tailcoat. Để ngăn ngừa áo vest (cách gọi khác của ghi lê) bị cuộn lên, chuẩn mực nhất thì cần có thêm phần tab khuy gài, gắn với mặt trong của waistband quần.

 

FULL DRESS TROUSER:

Cùng chất liệu với áo, quần âu trang trọng (dress trousers) cần có cạp cao hơn bình thường kèm theo suspender để cân đối với chiếc tailcoat được cắt cao và áo ghi lê ngắn. Không có gì lạ khi Menjou đặt tên cuốn tự truyện của mình là It Took Nine Tailors (Cần tới chín thợ may).  Dựa vào độ cao của waistcoat (ghi lê), ta có thể đặt được tỉ lệ tuyệt vời cho trang phục. Những chiếc dress trousers cao cấp thường có ly quần xiên hướng về phía khóa quần để phân tán sự đầy đặn về mặt trước với túi quần dọc ở 2 bên để không làm ảnh hưởng những đường nét của áo khoác khi người mặc cho tay vào túi. Quần được làm không có lơ-vê, tạo một đường break (gãy) nhẹ ở chân, với 2 dải viền bóng đặt sát nhau.

 

THE FORMAL DRESS SHIRT AND BOW TIE:

Những chiếc dinner shirt (sơ mi buổi tối/dạ hội) trang trọng là một món đồ khác không khác biệt gì với truyền thống. Được thiết kế để hoàn thiện thêm hình ảnh của người mặc, áo bao gồm phần wing collar (một kiểu cổ áo) cứng (thường là loại tháo được), đứng thẳng; phần yếm sơ mi cứng ở trước đi cùng với 1 hoặc hai chiếc stud (khuy rời, làm bằng chất liệu quý, có thể dùng với sơ mi, waistcoat,…), (tùy thuộc vào chiều cao của người mặc), phần cổ tay đơn cứng.

Độ rộng của phần ngực sơ mi, thiết kế giống như những chiếc yếm, làm bằng linen được là phẳng hay vải piqué cứng, không được rộng tới phần dây đai của suspender, và chiều dài thì không được chạm tới phần waistband của quần. Nếu phần vải cứng này dài tới chạm quần, thì khi người mặc ngồi xuống nó sẽ bị cuộn lại giống như cánh buồm trước gió. Như áo vest, một chiếc formal shirt chuẩn mực sẽ có phần tab gắn với khuy nằm ở mặt trong waistband của quần.

 

 

Một bộ wing collar và nơ là bước đầu của trang phục thanh lịch. Được thiết kế dựng đứng theo cổ người mặc, phần cổ áo này cần lộ ra ¾ inch (0,75cm) tính từ cổ áo khoác, hay hơn 1/4 inch (0,6cm) so với chiếc cổ áo sơ mi bình thường. Dù là dáng bướm hay cánh dơi, những chiếc nơ với chất liệu piqué luôn được đặt phía trước phần tab của wing-collar, không bao giờ ở sau. Vì phần “wing” (lá cổ) cứng tháo rời được không bao giờ đủ chỗ cho nút thắt của nơ, phần tab còn trợ giúp cố định chiếc nơ ở đằng trước.

Vì studs, đai và khuy cần phải nằm thẳng hàng, những bộ phụ kiện cho white-tie như gợi nhớ tới trò trói người mua vui thời Victoria vậy. Ngược lại, một khi được cắt may hợp lý, outfit này sẽ đem lại sự thoải mái đang ngạc nhiên. Và khi không cần phải lo lắng làm sao cho quần áo không lộn xộn, cánh đàn ông có thể thoải mái thư giãn và tập trung cho những thứ quan trọng hơn, chẳng hạn như quầy bar nằm đâu.

 

– HẾT PHẦN I