• Series bài dịch từ bản tiếng Anh chính thức của cuốn Dressing the Man, tác giả Alan Flusser; do Dexterlegant thực hiện với sự giúp sức của các cá nhân: Nhân Nguyễn, Nhân Lê.
  • Sách có độ dày 320 trang, phần nội dung chính dự trù là 13 vạn chữ, sẽ được chia ra Post thành nhiều phần theo sự biên tập của Dexterlegant.
  • Dexterlegant xin phép lược bỏ phần Lời mở đầu của cuốn sách và bắt đầu dịch từ chương đầu tiên
  • Bản dịch hướng tới việc bám sát bản gốc nhất có thể, cả về nội dung, hình thức trình bày và hình ảnh minh họa.
  • Đây là bản dịch không chính thức, không được kiểm duyệt bởi tác giả hay bất kỳ cơ quan/ tổ chức có chuyên môn thẩm quyền nào.
  • Dự án này do cá nhân Dexterlegant triển khai, không có bất kỳ mối liên quan nào tới vấn đề phát hành, quảng cáo, biên soạn của tác giả.

 

FORMALWEAR

PHẦN II

 

STUD SENSE

Đầu tư vào những bộ studs (khuy rời, làm bằng chất liệu quý) cổ kính được chế tạo vào khoảng cuối thế kỷ 19 hoặc đầu thế kỷ 20 với chất liệu xà cừ, vàng 18 karats, hay những vật liệu quý hiếm khác, dành cho waistcoat, sơ mi, hay cổ tay áo, thật sự rất đáng tiền. Một chiếc đồng hồ bỏ túi vàng, mỏng với dây xích đẹp đẽ sẽ luôn tăng thêm sự trang trọng cho bộ đồ. Để hoàn thiện cho tổng thể, đôi tất phải là màu đen, dài trên bắp chân, với chất liệu lụa hay ribbed cotton chất lượng cao, có thể có phần chỉ viền hoặc không. Về phần giày, nhất định phải là một đôi opera pump hay plain-toe oxford da bê hoặc da bóng (patent) màu đen.

Các lựa chọn về mũ bao gồm những chiếc opera hay top hat bằng lụa và có thể gấp lại được, phối cùng áo chesterfield overcoat hai hoặc một hàng khuy, màu đen hoặc midnight blue (xanh nửa đêm, màu xanh nước biển tối), với cổ áo nhung cùng màu.

Hiển nhiên, chiếc áo khoác ngoài dành cho formalwear nên đủ dài để che hết được tailcoat. Đó là lý do tại sao mà áo khoác càng dài thì trông càng trang trọng. Có lẽ phiên bản sành điệu nhất của formal coat là những chiếc áo hơi ngắn hơn một chút, dáng chữ A, một hàng khuy, có khóa kéo và ráp tay kiểu raglan, ve nhọn cùng cổ nhung. Kết hợp cùng suspender trắng và khăn quàng cổ, găng tay, khăn bỏ túi bằng vải lanh (linen), một bông cẩm chướng nhỏ, tất cả đều cùng màu; còn vẻ đẹp nào thanh lịch hơn?

 

SEMI-FORMALWEAR

Adolphe Menjou từng được hỏi rằng ông có nghĩ những chiếc dinner jacket có thể tồn tại lâu dài được. Ông đáp rằng, tất nhiên là có thể, bởi rằng kiểu áo này, một vết tích cuối cùng của phục trang tầng lớp thượng lưu, chính là biểu tượng của phong thái lịch thiệp, nhằm tôn lên những quý cô trong vòng tay chúng ta và cả người chủ nhà.

Giống như cái tên, những chiếc dinner jacket ban đầu đúng là loại áo ít trang trọng hơn được người ta mặc trong bữa tối riêng tư ở nhà hoặc club. Phiên bản đầu tiên xuất hiện vào khoảng cuối thế kỷ 19, theo yêu cầu của hoàng tử Anh (sau này là vua) Edward VII. Ông muốn có một loại áo thoải mái hơn để mặc khi ăn tối, thay thế cho những chiếc swallowtail coat với cái đuôi áo phiền phức. Dưới đây là bản ghi tay đơn đặt hàng chiếc dinner jacket đầu tiên từ Hoàng tử Xứ Wales của thợ may hoàng gia Poole.

Đa số nhất trí rằng mẫu tailcoat “cắt ngắn” đầu tiên này là áo một hàng khuy với cổ tròn (shawl) vải worsted wool màu đen và ve áo phủ lụa màu đen. Mẫu áo tương tự mà các quý ông người Anh mặc có tên gọi “smoking jacket” làm từ lụa nhung. Phần bề mặt bằng lụa là kế thừa từ phần ve áo tailcoat. Những quý cô thời Victoria không hút thuốc và bắt các ông chồng mang cái hoạt động độc hại cùng với cái áo họ mặc qua phòng khác. Từ đây tới đầu những năm 20, trang phục black-tie được coi như chấp nhận được khi mặc ở nhà hay ở các club, trong khi tailcoat vẫn là bắt buộc trong các hoạt động giao lưu xã hội trang trọng.

Để biết lý do tại sao lại có cái tên “tuxedo”, hay tham khảo phần phụ lục. Tuy nhiên, may mắn là thuật ngữ “tuxedo”, thường rút gọn thành “tuck” hay thậm tệ hơn là “tux”, chỉ phổ biến trong phạm vi nước Mỹ. Nhìn chung, thuật ngữ dinner jacket được chấp nhận ở cả Mỹ và các nước khác, vaf hiếm khi nó được gọi là tuxedo, kể cả ở Công viên Tuxedo, New York.

Vào những năm 1920s, ta chứng kiến sự ra đời của nhà thiết kế thời trang nam không chính thống đầu tiên, Hoàng tử xứ Wales, sau này là Vua; và rồi Công tước xứ Windsor. Là một người dành nhiều quan tâm cho việc ăn mặc và hơi nổi loạn, ông đã quyết định bỏ đi những luật lệ cứng ngắc của thế hệ cha ông. Trước khi thoái vị vào năm 1936, Hoàng tử thay thế sơ mi dạ hội có phần ngực áo và wing collar cứng bằng chiếc áo sơ mi thoải mái hơn, xếp ly trước ngực cùng với cổ áo gập mềm mại. Ông cũng đi tiên phong với những chiếc waistcoat hở lưng dành cho tiết trời nóng. Cuối những năm 30s, hội nhóm hoàng gia của hoàng tử đã diện những món đồ semi-formal đời mới nhất, và dinner jacket bắt đầu thay thế cho tailcoat.

 

 

Thời trang sartorial khi đó thịnh vượng hơn mọi thời kỳ khác. Từng bước phát triển của dinner jacket được đo đếm bởi sự hoàn hảo của loại phục trang mà nó thế chỗ – thế hệ đầu của sự thanh lịch nam giới – tailcoat và white-tie. Kể từ cuộc cách mạng ăn mặc đỉnh cao với sự ra đời của chiếc dinner jacket vào cuối những năm 30, thời trang nam vẫn chưa có nét bứt phá nào vượt trội hơn so với thiết kế thiên tài và sự tinh tế không thể nghi ngờ của loại phục trang này. Kiểu dinner jacket mới đặt ra cấp độ mới về tầm vóc và đẳng cấp, ngang ngửa với kẻ tiền nhiệm cứng nhắc, nhưng mức độ thoải mái thì lớn hơn đáng kể.

 

DINNER JACKET DOGMA

Là con cháu của tailcoat, những chiếc dinner jacket một hàng khuy với phần ve nhọn hướng lên trên giúp cho đàn ông trông nổi bật và cao ráo hơn. Chỉ với một nút cài, chiếc áo cần đi kèm waistcoat hay cummerbund để che đi phần waistband lộ ra của quần.

Với những người dáng vóc cân đối, áo hai hàng khuy cũng có vẻ độc đáo riêng mà không cần mặc cùng waistcoat hay cummerbund. Hình minh họa là hai tâm hồn sành điệu, người chồng ưa thích vải satin – Cole Porter – với vợ- Linda, và Doug Fairbanks Jr. trong trang phục điểm xuyết lụa grosgrain.

 

 

Dù rằng chiếc dinner jacket với shawl-collar mang âm hưởng cổ điển hơn so với peak lapel, đường cong của ve áo hợp với gương mặt góc cạnh hơn. Noel trong bức ảnh này đang bộc lộ phong thái “old-boy” và chả đếm xỉa gì đến mấy cái lý thuyết đó.

Những bộ tuxedo may sẵn của Anh có phần ve áo được bao phủ bằng vải satin bóng. Có thời điểm Savile Row cho rằng vải lụa gân grosgrain (ribbed silk grosgain) mang nhiều tinh thần may đo hơn. Tuy nhiên, miễn là người mặc lựa chọn mẫu áo một hay hai hàng khuy kết hợp với lụa satin hay grosgrain, với ve tròn (shawl) hay ve nhọn, thì trang phục vẫn đều trong khuôn khổ thời trang cổ điển.

 

 

Những kiểu dinner jacket đi ra ngoài 4 nguyên mẫu cổ điển này thì đều làm giảm sự trang trọng bằng ve chữ V (notch lapel) hay túi có nắp, có thể coi là đối lập với tinh thần sartorial, làm hỏng cả logic thẩm mĩ và vẻ thanh lịch không tuổi của loại trang phục này. Formal suit được tạo ra để tách biệt với suit công sở ve chữ V, chứ không phải là mô phỏng nó.

Sự cân bằng trong các chi tiết của chiếc dinner jacket khá rõ ràng: Túi ngực để nhét khăn tay trắng vải linen và khuyết ve bên trái để cài bouttonniere (hoa cài ngực). Hai túi hông không nắp trơn hoặc có viền cùng chất liệu với ve áo. Như tailcoat, dinner jacket một hàng khuy có một khuy ở ngang eo và bốn khuy ở tay áo, chất liệu là sừng, màu đen, hoặc được bọc bởi cùng loại vải ở ve áo (satin hoặc grosgrain).

 

 

Bởi vì các loại sự kiện trang trọng nhất thường diễn ra ở những nơi mà nhiệt độ được kiểm soát, vải worsted wool trọng lượng vừa phải (91/2 tới 101/2 ounces) sẽ là vừa đủ để mang lại sự thoải mái suốt 3 mùa. Như tailcoat, trang phục tiệc tối có những chi tiết phủ bề mặt bằng vải bóng, vì vậy để cho không bị quá đà, vải áo dinner jacket nên là loại trơn và trầm. Các kiểu dệt tinh tế như barathea và mini-herringbone, hay hiệu ứng vải lốm gần như không ảnh hưởng xấu gì, đồng thời còn tăng thêm sự thú vị cho trang phục formal.

 

 

Khi nói tới màu sắc, các màu sắc cơ bản giới hạn trong phạm vi đen hoặc xanh nửa đêm (midnight blue). Những năm 1930, xanh nửa đêm bắt đầu thay thế cho màu đen, bởi dưới ánh đèn phòng thì màu midnight blue lưu giữ được sắc thái, trong khi màu đen đôi lúc lại tạo cảm giác quá nhân tạo. Thuật ngữ “midnight blue” gợi lên hình ảnh những đôi chân nhún nhảy trong không gian buổi tối, khi sự lãng mạn và huyên náo hòa quyện. Vốn áo màu midnight blue nguyên bản thường có phần vải phủ bề mặt ve cùng màu, nhưng vải grosgrain hay satin đen cũng đã được sử dụng từ những năm 30.

 

 

Ngày xưa, khi mà những anh chàng quảng giao cần nhiều hơn là một chiếc dinner jacket, không lạ khi thấy ai đó mặc loại áo nhẹ hơn làm từ vải mohair hoặc lụa. Ngày nay, độ phản chiếu trầm của chất liệu baby mohair hay worsted wool chất lượng cao là một vài ngoại lệ khi mà vải bóng bẩy đang được ưa thích. Đây là ngài Gianni Agnelli từ Ý, sử dụng dinner jacket với mohair với chi tiết bề mặt khá giống lụa.

 

– HẾT PHẦN II