• Series bài dịch từ bản tiếng Anh chính thức của cuốn Dressing the Man, tác giả Alan Flusser; do Dexterlegant thực hiện với sự giúp sức của các cá nhân: Nhân Nguyễn, Nhân Lê.
  • Sách có độ dày 320 trang, phần nội dung chính dự trù là 9 vạn chữ, sẽ được chia ra Post thành nhiều phần theo sự biên tập của Dexterlegant.
  • Dexterlegant xin phép lược bỏ phần Lời mở đầu của cuốn sách và bắt đầu dịch từ chương đầu tiên
  • Bản dịch hướng tới việc bám sát bản gốc nhất có thể, cả về nội dung, hình thức trình bày và hình ảnh minh họa.
  • Đây là bản dịch không chính thức, không được kiểm duyệt bởi tác giả hay bất kỳ cơ quan/ tổ chức có chuyên môn thẩm quyền nào.
  • Dự án này do cá nhân Dexterlegant triển khai, không có bất kỳ mối liên quan nào tới vấn đề phát hành, quảng cáo, biên soạn của tác giả.

 

GLOSSARY

PHẦN I

 

  • ACCORDION PLEATS: những đường gấp hẹp nối tiếp nhau trên vải, nhìn như là đàn phong cầm (đàn accordion).

 

  • ALBERT SLIPPER: đôi giày không có phần buộc dây, chỉ cần xỏ chân vào, hình thêu lớn ở mặt trước, nguyên bản được tạo ra bởi Prince Albert, một trong những hoàng tử của nữ hoàng Victoria.

 

  • ALL-OVER: một thiết kế, giống như chấm bi lớn, lặp lại một cách liên tục và giống nhau khắp bề mặt của cà vạt.

 

  • ALPACA: một thành viên của họ lạc đà, thường thấy ở cao nguyên Andean- Chile và Peru. Loài động vật này sở hữu lớp lông tơ vô cùng mềm mại với những sợi lông cực tốt, mềm và bóng. Vải Wool từ nó rất đa dạng về màu như màu xám nhạt, màu nâu đỏ nhạt và nâu, từ màu trắng tinh khôi cho tới màu đen bạc màu.

 

  • AMERICAN LOOK: được mô tả bởi Brook Brother vào năm 1939: “phong cách này, trên tất cả, được nhận biết bởi Sự tự nhiên. Trang phục được mặc với sự thoải mái và bình thản. Người mặc trông giống như chính bản thân họ, và không ai khác, không quan trọng là hoàn cảnh nào hay những gì anh ta có. Nó không thể được hoàn thành với những trang phục xa lạ với khuynh hướng riêng của người mặc, hay diện mạo đời thường. Thật sự, những bộ trang phục tự nhiên, giống như những con người tự nhiên, luôn luôn là sự hài lòng lớn nhất”.

 

  • ANTIQUING: cũng được gọi là “cách hoàn thiện của những người làm boots”. Một quá trình của việc lên màu, dùng sáp hay dầu cho da, sau đó để chúng tự hấp thu hay chủ động áp lên, rồi đánh bóng chúng bằng vải hay bàn chải. Bắt đầu vào thời điểm khoảng năm 1936, antiquing tạo ra những đôi giày được lên màu patina tự nhiên một cách chậm rãi và thận trọng, nâng cao thẩm mỹ của những đôi giày cũng như mở đường chấp nhận sự phong phú của những đôi giày nâu vào ăn mặc ở thành thị hay nơi công sở.

 

  • APRON: thuật ngữ của người Mĩ cho phần đỉnh rộng, ở cả trước và sau, của những chiếc cà vạt dài. Tương tự, những đường may nổi hay phẳng xung quanh phần trước của đôi giày hay là phần mu giày.

 

  • ARCH: phần đường cong ở dưới cùng từ phần gót tới phần nằm ngay sau những ngón chân

 

  • ARGYLE: họa tiết hình kim cương đa màu sắc, đôi khi là caro lớn, thường làm từ vải wool, nguyên gốc được đan ở Anh bằng những khung cửi tay, ngày nay nó được làm bằng máy, dùng đầu tiên cho tất và áo len.

 

  • ARMSCYE: cách nói rút gọn của “arm’s eye”, mặt nằm thấp hơn của vòng ráp tay áo khoác, nơi mà tay áo được nối vào. Nếu vị trí này fit sát vào nách người mặc, nó được biết đến như là “armhole cao”, nếu fit lỏng thì gọi là “armhole thấp”

 

  • ASCOT: Khăn với phần kết thúc vuông, cùng phần đỉnh mỗi đầu có độ rộng bằng nhau, mặc cho những dịp trang trọng vào ban ngày. Lấy tên từ Ascot Heath, một đường đua ở Anh nơi lần đầu tiên nó được dùng, Ascot có 2 cách thắt. Đầu tiên là nút thắt đơn, trong khi cách thứ hai là Gordian với một bên bắt ngang qua đên còn lại và được cố định bởi một chiếc đinh ghim. Tương tự, nó còn là chiếc khăn được buộc qua cổ trong trang phục dành cho thể thao.

 

  • AUBERGINE: sắc thái của màu tím, tương tự như những quả cà tím.

 

  • BACK PLEATS: hai đường ly quần ở phần trên của quần, nằm ở giữa ly trước và đường chỉ nối bên hông (mặt ngoài quần).

 

  • BACK VENT: phần mở đơn hay xẻ phía sau của trang phục với độ dài khác nhau, tùy vào phong cách của áo khoác.

 

  • BACKLESS WAISTCOAT: một thể loại hiện đại của chiếc áo gi lê trang trọng, giới thiệu tại London vào năm 1923 làm không có phần lưng và được giữ tại chỗ bởi một bản vải, cài bằng khóa hay khuy, bắt qua phần lưng ở thắt lưng. Sự đổi mới của thời kỳ ăn mặc phóng khoáng hơn phổ biến bởi Hoàng tử xứ Wales, mang lại nhiều sự thoải mái và mát mẻ hơn cho ăn mặc trang trọng ở nam giới. Hawes và Curtis, nhà làm sơ mi của Hoàng tử, yêu cầu phải phát minh ra loại trang phục này.

 

  • BACKSTITCH: mũi khâu của những thợ may, một thể loại mũi khâu khóa (lockstitch), khác với những kiểu khác bởi viêc bao phủ toàn bộ bề mặt giữa những mũi khâu, phần chỉ được lộ ra trên mặt của vải. Những mũi khâu này với cách làm tốt sẽ tạo ra những đường chỉ viền hoàn hảo.

 

  • BAL COLLAR: loại cổ áo cao mang nét của quân đội có thể nằm phẳng hay lật lên và cài nút. Loại cổ áo này là một bản vải khoảng 3.5 inches (8.9 cm) ở áo mưa và áo khoác. Tên này lấy từ BALMACAAN.

 

  • BAL SHOE: đôi giày khép mu cùng phần buộc dây phía trước, lấy tên từ lâu đài Balmoral ở Scotland.

 

  • BALANCE MARKS: hướng dẫn cho những người thợ trong việc nối những phần khác nhau của trang phục lại với nhau một cách chính xác càng nhiều càng tốt. Với những chiếc quần, thay vì đánh dấu bằng phấn, những đánh dấu chữ V nhỏ được cắt tại đầu gối và hông cho việc xếp những phần tương ứng. Với cách này, sự cân bằng cho toàn bộ trang phục được tạo nên.

 

  • BALANCE: thuật ngữ được dùng để mô tả dáng/ cách trang phục nằm ở trên người.

 

  • BALL: phần của đôi giày nằm ngay sau phần mũi

 

  • BALMACAAN: chiếc áo khoác fit rộng dựa trên nguyên gốc phiên bản quân đội nước Phổ. Được đặt tên cho Balmacaan, vùng đất gần Inverness, Scotland, vai áo Raglan đặc trưng của nó và phần cổ áo hẹp bẻ gập xuống, cả cổ áo và áo đều được gọi là Bal cho ngắn gọn.

 

  • BALMORAL: chiếc mũ mềm, không có đỉnh của đàn ông Scotland, được đặt tên vào thế kỷ 19 dưới ánh hào quang từ lâu đài của nữ hoàng Victoria ở Balmoral, nơi nó thường được dùng. Còn được gọi là “Tam’o Shanter”, hay “Tammy”, theo một người anh hùng trong một bài thơ của Robert Burn.

 

  • BANDANNA: những chiếc khăn lớn, màu sắc sáng được thắt như cà vạt ở quanh cổ. ban đầu làm từ lụa, được nhập khẩu từ Ấn Độ vào đầu thế kỷ 18, mặc bởi những chàng cao bồi Mĩ. Tương tự, là một từ Hindi cho việc thắt và nhuộm màu trang phục.

 

  • BANDOLLER STRIPED: đường chéo duy nhất ở bên dưới những nút thắt cà vạt.

 

  • BARATHEA: vải được chải kĩ với bề mặt mịn từ hiệu ứng FILLING gãy, tạo ra bề mặt giống như đá cuội. Nó được làm đầu tiên với vải Wool cho trang phục ban đêm, và lụa cho cà vạt.

 

  • BARBOUR COATS: một chiếc áo khoác ngoài dùng cho săn bắn cổ điển của người Anh, với cổ áo đứng bằng vải nhung gân màu nâu, và chi tiết che phủ phần cổ, làm từ vải dầu màu xanh lá đậm của cotton Ai Cập và lót bởi vải cotton kẻ caro bền và sáng màu. Số lượng túi nhiều và khả năng chống lại thời tiết xấu của nó tạo thành sự lựa chọn cho ăn mặc ở cả nông thôn hay thành thị.

 

  • BARLEYCORN: thiết kế che phủ bề mặt đặc trưng bởi các hình tam giác nhỏ, như hạt bắp. dùng cho vải tweed hay các chất liệu từ len khác. Họa tiết với cách dệt đôi này có được bằng cách tạo ra sự đối lập nhau giữa sợi vải dệt dọc và ngang.

 

  • BARREL CUFF: phần cuff đơn gắn vào tay áo và được cài bằng khuy và lỗ khuy.

 

  • BARRYMORE COLLAR: cổ áo sơ mi nằm thấp, gắn liền vào thân áo với đỉnh dài, mặc lần đầu bởi John Barrymore cuối những năm 1920s và được chấp nhận bởi các ngôi sao Hollywood và những người khác ở California, sau này được biết đến như là cổ áo California

 

  • BAR-SHAPED TIE: một loại cà vạt với đỉnh có chiều rộng bằng nhau và song song với nhau.

 

  • BAR TACK: một đường chỉ nối làm từ những sợi chắc chắn để củng cố hơn cho những mũi thêu (slip stitch) nối phần thân của cà vạt tại đỉnh của bản cà vạt nằm trước.

 

  • BASKET WEAVE: những sản phẩm khác nhau của cách dệt phẳng với hai hoặc ba sợi được sử dụng trong sợi WARP và WEFT để sản xuất ra những chất liệu với hiệu ứng như những chiếc rổ đan (basket), như tên gọi của nó. Được dùng chủ yếu cho sơ mi và sport jacket. Vải oxford là một dạng của cách dệt này.

 

  • BASQUE BERET: chiếc mũ ôm sát đầu, phần lưỡi trai trong bao quanh và không có phần viền, được dùng ở vùng Basque.

 

  • BASTE: được nối lỏng lẻo hay cài tạm thời tại chỗ với những mối chỉ dài, có thể tháo ra được. Trong may đo nam giới, nó thường dùng để giữ tạm những phần của trang phục khi thử.

 

  • BASTED FITTING: bước fit đầu tiên của một chiếc áo may đo. Một lớp vải mặt ngoài hay “bản thử thô” được chuẩn bị chính xác từ giấy bởi các thợ may. Chiếc áo khung này có phần dựng của nó được làm sẵn vào, với những đường nối, cạnh trước được quay vào, cổ được nối sơ vào, và đôi khi là một tay áo, thường được tháo ra sau đó để thử lần tiếp theo, để có thể cải thiện fit.

 

  • BATISTE: một loại chất liệu được dệt tốt, hiệu ứng bề mặt mỏng, làm từ cotton hay những chất liệu khác để làm áo sơ mi. Tên được đặt từ Jean Baptiste, một thợ dệt vải linen người Pháp người sống ở Cambrai là là người đầu tiên sản xuất chất liệu này.

 

  • BATTLE JACKET: chiếc áo màu khaki, dài ngang thắt lưng, một hàng khuy, phổ biến trong quân đội Mĩ vào thế chiến II. Được dùng cho ăn mặc dân sự với nhiều chất liệu khác nhau.

 

  • BATWING: tên đặt cho một loại nơ với phần đỉnh vuông giống như cánh dơi trước khi thắt. Được biết đến như là chiếc nơ của các clb ở Mĩ, nó là sự thay thế cho nơ cánh bướm. Hẹp hơn là cánh bướm, được thắt với nút thắt lớn. Nó được làm với chất liệu lụa gân hay satin cho ăn mặc ban đêm, hay các chất liệu có họa tiết cho ăn mặc ban ngày.

 

  • BEAVER: loại chất liệu bóng, trơn, hiệu ứng bề mặt giống lụa, được dùng rộng rãi để sản xuất mũ phớt.

 

  • BEDFORD CORD: loại chất liệu “chị em” với pique (cotton cứng, dệt có gân), được dệt chặt, bền bỉ, với cách dệt tạo ra hiệu ứng giống như có những sợi gân. Được sử dụng lần đầu để làm quần cho dân quân ở Bedfold. Màu nguyên bản tương tự như COVERT CLOTH, được làm từ len, cotton hay phối hợp của 2 chất liệu kể trên.

 

  • BEETLE BACK: phần lưng áo Gile với những góc tròn dài hơn thân trước của nó.

 

  • BEIGE: màu tự nhiên hay chưa nhuộm, một sắc thái rất nhạt của màu Tan.

 

  • BELL BOTTOM:phần rộng ra dần, hay chiếc quần được làm rộng ra hơn, gợi lên hình dáng quả chuông. Nguyên bản là quần xanh dương hay màu trắng mặc bởi những người đi biển, còn được biết đến như là quần cho thủy thủ.

 

  • BELLOW PLEAT: nếp gấp sâu ở phần bên của áo khoác, nhằm tạo thêm sự đầy đặn để thoải mái hơn.

 

  • BELLOWS POCKET: còn gọi là “safari pocket”. Một phong cách túi đắp với ba mảnh bên cho phép túi có thể mở rộng. những mảnh bên này tạo ra hình ảnh của những người Anh trước đây dưới ánh lửa.

 

  • BEMBERG: tên thương mại của vải Cupramonium Rayon. Thường thấy ở những chiếc áo khoác cao cấp, có thể là áo khoác ngoài hay lót tay áo.

 

  • BENCHMADE: một thuật ngữ gây hiểu nhầm, gợi đến những đôi giày ráp tay 100% làm trên những chiếc ghế dài bởi một người thợ. Ngày nay nó có nghĩa là những đôi giày có last 75%  được làm máy, và phần nhiễu- đế được ráp tay.

 

  • BENGAL STRIPED: những đường kẻ sọc với độ rộng bằng nhau, màu trắng hay những màu khác. Nó ban đầu được đưa tới khu chợ quốc tế ở Bengal, Ấn Độ, và được làm sơ mi.

 

  • BERET: loại mũ không vành, không có phần lưỡi trai, làm từ nỉ hay chất liệu khác.

 

  • BERMUDA SHORT: chiếc quần Short phong cách được mặc ở Bermuda. Được mở rộng xuống tới nếp gấp đầu gối, những đường viền 2 bên của nó kéo dài 20 tới 22 inches (50, 8 tới 55,8 cm)

 

  • BESOM: thuật ngữ của ngành may đo cho những chiếc túi trong với cạnh nhiễu (welt) hẹp trên phần mở ra của túi. Gọi là túi besom đôi nếu cả cạnh trên và dưới đều được may kèm nhiễu (welt). Và được gọi là besom có nắp nếu có phần nắp túi được thêm vào

 

  • BESPOKE: được làm cho riêng khách hàng, thuật ngữ được áp dụng ở Anh để chỉ những sản phẩm được làm cá nhân cho khách hàng.

 

  • BIAS CONSTRUCTION: xem RESILENT CONSTRUCTION

 

  • BIKINI: phong cách trang phục đi biển của nữ giới

 

HẾT PHẦN I