• Series bài dịch từ bản tiếng Anh chính thức của cuốn Dressing the Man, tác giả Alan Flusser; do Dexterlegant thực hiện với sự giúp sức của các cá nhân: Nhân Nguyễn, Nhân Lê.
  • Sách có độ dày 320 trang, phần nội dung chính dự trù là 9 vạn chữ, sẽ được chia ra Post thành nhiều phần theo sự biên tập của Dexterlegant.
  • Dexterlegant xin phép lược bỏ phần Lời mở đầu của cuốn sách và bắt đầu dịch từ chương đầu tiên
  • Bản dịch hướng tới việc bám sát bản gốc nhất có thể, cả về nội dung, hình thức trình bày và hình ảnh minh họa.
  • Đây là bản dịch không chính thức, không được kiểm duyệt bởi tác giả hay bất kỳ cơ quan/ tổ chức có chuyên môn thẩm quyền nào.
  • Dự án này do cá nhân Dexterlegant triển khai, không có bất kỳ mối liên quan nào tới vấn đề phát hành, quảng cáo, biên soạn của tác giả.

 

GLOSSARY

PHẦN III

 

  • BURGUNDY: sắc thái của màu đỏ giống màu rượu vang Burgundy

 

  • BUSHELING: thuật ngữ khác chỉ việc thay thế hay sửa chữa những bộ suit, áo khoác, quần và áo khoác ngoài

 

  • BUSHEL MAN: thợ may di chuyển phụ trách sửa chữa và thay thế trang phục

 

  • BUSH JACKET: chiếc áo khoác giống sơ mi, có thắt lưng, một hàng khuy với 4 túi đắp có nắp với vải cotton DRILL hay GABARDINE màu Tan

 

  • BUTTERFLY: cách thắt của nơ với phần ngoài cũng có hình cây kế hay loe rộng ra, thắt với một nút thắt nhỏ và bản nơ lớn với phần ngoài cùng rộng. Tên của nó được đặt từ 1904 với sự thành công của vở Opera Madame Butterfly. Đến nay, những thiết kế nơ cũng được gọi đơn giản là CARAVAT (trang 245, 247)

 

  • BUTTERNUT: màu nâu tạo ra bằng việc nhuộm phần vỏ cứng của quả bí hay óc chó. Tạo ra loại chất liệu thô, giống như loại len dệt tại nhà, được mặc nhiều ở vùng phía Nam nước Mĩ.

 

  • BUTTON DOWN COLLAR: xem trang 134, Fred Astaire; trang 140

 

  • BUTTONHOLE GUARD: sợi chỉ đứng, lỏng và xoắn nối vào mặt bên dưới của lỗ khuy ve bên trái của áo để giữ những bông hoa cài ve áo

 

  • BUTTON NECK: sợi chỉ dùng để nối khuy vào trang phục, hỗ trợ trong khi sử dụng khuy cũng như làm khuy lồi lên khi được cài

 

  • BUTTON STANCE: chiều cao, khoảng cách và khoảng trống của những nút phía trước thân áo khoác, có liên quan với cạnh phía trước và eo của áo

 

 

  • BUTTON THROUGH: thiết kế phần vạt của các loại áo khoác ngoài nơi các khuy được cài với lỗ khuy cắt xuyên qua chất liệu và không có thêm lớp vải che phủ.

 

  • CABLE STITCH: những mũi khâu đan nổi chồng lên được làm bởi máy móc hay bằng tay, gợi đến hình ảnh của những buồng chứa, dùng trong áo len và tất

 

  • CALFSKIN: da từ con bê non vài ngày hay vài tuần tuổi, nặng 16 pound hoặc ít hơn (7.25 kg), dùng để làm giày hay đồ da chất lượng.

 

  • CALIFORNIA COLLAR: xem BARRYMORE COLLAR

 

  • CAMBRIDGE GRAY: xem OXFORD GRAY

 

  • CAMEL: màu vàng nhẹ pha màu tan dựa trên màu sắc của những con lạc đà hai bướu

 

  • CAMEL HAIR: sợi từ lông lạc đà với màu sắc từ màu Tan tự nhiên tới màu nâu. Là loại len rất ấm và trọng lượng nhẹ, ít tinh tế hơn là cashmere. Những sợi lông lạc đà tốt nhất đến từ lớp lông tơ của lạc đà Bactrian (hai bướu) tìm thấy ở cao nguyên Trung Quốc. Dùng đơn thuần hay phối hợp với chất liệu khác cho áo khoác, suit, và áo len

 

  • CANVAS: nguyên gốc là vải làm từ cây gai, đặt tên theo từ CANNABIT, một phân lớp phổ thông của loại chất liệu dệt nặng, bền bỉ và thô, thường làm với cotton. Thuật ngữ Canvas và Duck đã được hoán đổi cho nhau, nhưng “canvas” vẫn thường liên quan tới cấu trúc nặng nề hơn.

 

 

  • CAP: chiếc mũ lưỡi trai với phần đỉnh tròn, được cắt theo hai kiểu là đỉnh 8 mảnh và đỉnh 1 mảnh. Năm 1571, Nghị viện Anh thông qua đạo luật yêu cầu nam giới Anh trên 6 tuổi (nhưng không bao gồm giới quý tộc) phải đội một chiếc mũ Cap bằng len vào ngày chủ nhật. Điều luật này khích thích việc buôn bán vải len, cho tới khi bị thay thế năm 1597, nhưng chiếc mũ Cap với phần lưỡi trai ngang phía trước có các chiều dài khác nhau đã trở thành loại phụ kiện đội đầu dễ chịu.

 

  • CAPE: trang phục khoác ngoài không có tay áo nhưng có đường xẻ ở mỗi bên cho phần tay.

 

  • CARDIGAN: một thể loại của mũi đan, cũng là những chiếc áo len đan không cổ và ve áo, làm có hoặc không có tay. Được đặt tên theo Cardigan, người ghét sự phiền toái của những chiếc áo trùm đầu, nhưng cũng là người đã dẫn dắt Lữ Đoàn Ánh Sáng trong cuộc chiến tranh Crimean

 

  • CARDING: quá trình chuẩn bị sợi để quay. Sợi được đặt tự động với sự căn chỉnh phù hợp và loại bỏ tạp chất. những sợi len sau quá trình này được chỉnh thành một hình dáng có kiểm soát được gọi là “sliver” phù hợp với kích cỡ của các tiêu chuẩn.

 

  • CARNABY STREET: nơi khai sinh ra cuộc cách mạng Peacock ở London. Khu phố gồm hai dãy nhà song song với Regent Street, nơi có nhiều cửa hàng mà vào những năm 1960s đã giới thiệu những trang phục “mod” và sau này, những phong cách như quần ống loe, sơ mi họa tiết sặc sỡ, và cả những trang phục của miền Tây nước Mĩ cũng được chấp nhận .

 

  • CASH POCKET: xem TICKET POCKET

 

  • CASHMERE: loại len tốt từ lớp lông tơ của dê lông dài Kashmir, được dệt hay đan thành loại vải mềm và cảm giác sang trọng khi chạm vào. Cashmere lần đầu được mặc khi những người Kashmir dệt nó thành những chiếc khăn quàng. Vào thế kỷ 19, người Anh, scotland và Pháp sử dụng những chiếc khăn quàng này, và bắt chước chúng, đặc biệt là vùng Pasley, Scotland. Sự nổi bật của len là màu xám nhạt ấm áp và nhuộm tốt hơn là những loại len hiếm khác. Len Cashmere được chải kỹ là loại tốt hơn và đắt hơn so với cashmere dệt thường, không được quay nếu có những sợi khiếm khuyết hay không hoàn thiện. sợi Cashmere chải kỹ đặc biệt nhẹ và trái ngược hơn với PILLING (tạo ra một chút nhám mờ của bề mặt chất liệu), dùng cho suit và sport coat. Len Cashmere dày hơn một chút và cuộn tròn dễ hơn là Cashmere chải kỹ, được dùng cho suit và áo len.

 

  • CASUAL: đôi giày mu thấp, không buộc dây

 

  • CAVALIER: chiếc mũ nỉ mềm với phần đỉnh có một miếng vật liệu quây lại và phần vành mềm lật ngược lên ở toàn bộ xung quanh mũ. Những mẫu sau này được trang trí bằng lông chim từ thế kỷ 16 bởi kị binh Thụy Điển, có được sự ưa thích của hoàng gia Anh. Ban đầu nó được dùng trong thể thao với phần lông chim và vành được bẻ ngược lên ở bên phải để thoải mái rút kiếm hơn, vài tay kiếm dũng cảm lật mặt thứ ba lên và chiếc mũ mềm vểnh lên này được biết đến như là tiền thân của chiếc mũ Cavalier.

 

  • CAVALRY TWILL: loại vải được dệt chắc chắn với cách dệt chéo tạo ra những đường xiên chạy theo góc 63 độ, dùng cho quần Âu, theo hiệp hội các sĩ quan kỵ binh Anh. Dù Cavalry twill là tên gốc của nó, chính phủ Mĩ gọi nó là “clastique” bởi chất lượng khi căng của nó và sự phù hợp với trang phục cưỡi ngựa.

 

  • CHALK STRIPE: họa tiết kẻ sọc với hiệu ứng như những sợi dây, gợi đến những đánh dấu bằng phấn của thợ may, thường thấy ở vải flannel với những đường kẻ sọc trắng hoặc sáng màu

 

  • CHALLIS: loại vải len chải kỹ, cách dệt phẳng, quay tốt và có trọng lượng nhẹ ở Anh những năm 1830. Tên của nó lấy từ tiếng Hindi nghĩa là “mềm khi chạm vào”. Được dùng đầu tiên cho phụ kiện quàng cổ với các họa tiết nhỏ bao phủ toàn bộ của những họa tiết thể thao hay Paisley tự nhiên và được chấp nhận cùng những chiếc vai áo tự nhiên vào những năm 50, cho áo Gile, quần và áo khoác (trang 159)

 

  • CHAMBRAY: loại vải tốt, dệt phẳng với sự mềm mại sau khi hoàn thiện, sử dụng sợi WARP trắng và những sợi FILLING màu sắc và làm lần đầu cho sơ mi. Nguyên gốc là ở Cambrai, Pháp

 

  • CHAMOIS: màu da lộn vàng nhạt từ da đã được thuộc của loài dê châu Âu cùng tên

 

  • CHANNEL: những rãnh xiên cắt xung quanh cạnh viền dưới của đôi giày để dấu đi những mối chỉ nối.

 

  • CHARMEUSE: loại satin trọng lượng nhẹ, mềm mại, xa hoa  với độ bóng được làm giảm bớt và làm mờ đi. Nó là cái tên được đăng ký của Bianchini, Ferrier và Company.

 

  • CHARVET: kỹ thuật dệt được biết đến như là regence, tên được đặt trong suốt thời kỳ phổ biến đầu tiên của nó, từ năm 1715 tới 1723, thời nhiếp chính của PHILIPPE, công tước xứ Orleans. Làm từ cách dệt tạo các đường gân chéo, loại cà vạt lụa mềm, mờ này có độ rủ rất tốt. Charvet et Fils, nhà làm sơ mi nổi tiếng của Pháp, tạo nên những kĩ năng sử dụng loại chất liệu này, cũng như là loại cà vạt có họa tiết in và sặc sỡ, đi kèm với cái tên Charvet

 

  • CHELSEA BOOTS: loại giày cao ngang mắt cá mũi trơn, với mảnh cao su ở hay bên, tương tự như JODHPUR BOOTS nhưng không có phần đai. Phổ biến trong những năm 50s và 60s khi những chiếc quần ống nhỏ thịnh hành.

 

  • CHENILLE: loại sợi với phần đầu sợi nhô ra ở góc bên phải, từ tiếng Pháp cho ý nghĩa “con sâu bướm”

 

  • CHESTERFIELD: chiếc áo khoác ngoài dài quá gối với phần lưng phẳng, dáng ôm nhẹ và một hàng khuy mở phía trước hoặc hai hàng khuy. Với màu xám đậm, xanh dương, đen, nó có thể có phần ve áo đính nhung hay cổ áo liền thân. Tên có nó đặt theo Bá tước xứ Chesterfield vào thế kỷ 19

 

  • CHEVIOT:loại vải len dệt kiểu tweed sản xuất từ những sợi len thô, xù xì của loài cừu vùng đồi Cheviot, Scotland. Cách dệt truyền thống là dệt xương cá với bốn khung chéo nhau bởi những sợi được trang trí giống những loại lụa sáng màu. Giống những loại lụa sần sùi và thô, những đặc tính của Cheviot là tinh hoa nước Anh.

 

  • CHEVRON WEAVE: hiệu ứng díc-dắc lên và xuống tạo nên bằng việc đảo ngược quá trình dệt twill với cách thông thường. Tương tự như họa tiết xương cá, họa tiết Twill gãy này thấy ở áo khoác ngoài và suit.

 

  • CHINO: Loại vải bền, dệt chặt từ cotton, xuất phát từ Manchester,Anh; sau đó xuất khẩu sang Ấn Độ, từ đó nhập vào Trung Quốc, nơi nó được mua bởi quân đội Mĩ đóng ở Philippine trước thế chiến I. Cái tên Chinos được lấy từ lời đồn rằng nó có nguồn gốc từ Trung Hoa. Nhuộm màu khaki, nó là loại chất liệu duy nhất được nhuộm màu và dùng cho quân đội. Ngày nay, nó là tên một loại quần thể thao có thể dễ dàng giặt giũ của nam giới làm từ vải chino

 

  • CHROME TANNING: cách thuộc da bằng muối cờ-rôm, rẻ hơn và là phương pháp ít được yêu thích hơn là thuộc thảo mộc.

 

  • CHUKKA BOOTS: xem trang 204

 

  • CLASSIC: bất cứ thứ gì có thể mặc được với giá trị bền bỉ và được ưa thích, thường là bởi những đặc trưng bằng các thiết kế phổ biến và chi tiết giản đơn. Nó được dùng khi nói về một món đồ mà duy trì được tính thời trang của nó trong 7 năm, nó sẽ được cân nhắc như là một “classic”

 

  • CLEAR-FACED WORSTED: loại vải dệt sát từ những sợi xoắn đôi, với cách dệt nổi và tỉ mỉ nên loại vải này nhìn rất sạch sẽ. Được dùng làm suit

 

  • CLIPPED FIGURES: những điểm nhỏ được thêu trên bề mặt chất liệu, với những điểm nổi giữa các biểu tượng được tỉa bớt đi. Đây là quá trình dệt cổ và đắt giá cho dệt những mảnh vải sơ mi boardcloth với họa tiết mảnh, ngày nay được làm độc quyền ở Thụy Sĩ.

 

  • CLOCK: những thiết kế đan hay thêu dọc theo mặt ngoài của tất

 

  • CLUB TIE: cà vạt được in những màu sắc được lựa chọn hay tương tự như các câu lạc bộ hoặc hội nhóm. Club tie đầu tiên được đưa ra bởi thành viên đội đua thuyền EXETER COLLEGE ở đại học Oxford, người dùng những bản vải kẻ sọc như mũi thuyền của họ và thắt chúng quanh cổ vào những năm 1880

 

  • CLUB BOW: BATWING BOW: tên mà người Mĩ đặt cho những chiếc nơ hình cánh dơi, mặc cùng với TAILCOAT, màu đen hay midnight blue cùng với Dinner Jacket.

 

– HẾT PHẦN III