• Series bài dịch từ bản tiếng Anh chính thức của cuốn Dressing the Man, tác giả Alan Flusser; do Dexterlegant thực hiện với sự giúp sức của các cá nhân: Nhân Nguyễn, Nhân Lê.
  • Sách có độ dày 320 trang, phần nội dung chính dự trù là 9 vạn chữ, sẽ được chia ra Post thành nhiều phần theo sự biên tập của Dexterlegant.
  • Dexterlegant xin phép lược bỏ phần Lời mở đầu của cuốn sách và bắt đầu dịch từ chương đầu tiên
  • Bản dịch hướng tới việc bám sát bản gốc nhất có thể, cả về nội dung, hình thức trình bày và hình ảnh minh họa.
  • Đây là bản dịch không chính thức, không được kiểm duyệt bởi tác giả hay bất kỳ cơ quan/ tổ chức có chuyên môn thẩm quyền nào.
  • Dự án này do cá nhân Dexterlegant triển khai, không có bất kỳ mối liên quan nào tới vấn đề phát hành, quảng cáo, biên soạn của tác giả.

 

GLOSSARY

PHẦN IIX

 

  • LISLE: loại sợi cotton chất lượng tốt, xoắn chặt, dài được hơ qua lửa gas để loại bỏ lông tơ và tạo bề mặt trơn. Ban đầu dùng làm tất, bây giờ là áo dệt kim. Nó được gọi vậy bởi nó lần đầu được làm ở Lisle (bây giờ là Lille), Pháp.

 

  • LOAFER: tên thương hiệu của những đôi Slip-on Moccasin với phần gót dẹt và rộng, được đăng ký bởi Nettleton Shop, Inc

 

  • LODEN: màu xanh olive của Austrian Tyrol, từ thê kỷ 16. Những người nông dân, lần nào tạo ra sắc thái xanh lá cây cho trang phục ở những vùng miền núi nơi được gọi là Loderes, dệt với loại vải len thô và nhờn của cừu núi. Những loại vải Loden tốt hơn thường có lông lạc đà ở trong và chống nước bằng cách xử lý hóa học

 

  • LODEN COAT: loại áo khoác được ưa thích bởi Ivy League. Áo một hàng khuy với phần khuy nằm ở trước, cổ áo quân đội, ngực hẹp, túi có khía, đường ly xẻ sâu ở lưng và thiết kế những mũi chỉ đặc biệt nằm ở vai đặc trưng bởi sự mở rộng ra ơ phần thấp chỗ ráp tay để thoáng mát và vận động. nó được làm từ lông cừu mềm đặc trưng từ Áo cho sự ấm áp, chống nước, nhẹ và có màu xanh lá cây đậm (forest green). Mặc bởi các vận động viên từ Tyrol để đi dạo, săn bán hay lái xe

 

  • LONDON-SHRUNK: vải được co nhỏ lại bằng cách thức dùng nước đá lạnh để ngăn nó co lại sau này, sẵn sàng cho quá trình cắt. Loại vải khô trở nên co lại và gấp giữa lớp trên và lớp dưới của vải ướt, khi được làm khô tự nhiên và sau khi bị ép bởi nhiệt độ thấp. Ban đầu, tất cả vải vùng Yorkshire được gởi tới các thương gia London để đệ trình một phương pháp kiểm soát mức độ co thích hợp. Ngày nay kĩ thuật này thường được áp dụng tại nơi sản xuất, nhưng thuật ngữ “London shrunk” vẫn được chấp nhận toàn cầu

 

  • LONG FRONT BALANCE: chiều dài vượt quá ở phía trước cân bằng cho trang phục, do trang phục thường đầy đặn ở đường gấp phía trước khi cài khuy, một khiếm khuyết ở những món đồ được mặc bởi những người gù lưng.

 

  • LONG NECK: đường cổ yêu cầu vị trí nằm cao hơn của cổ áo.

 

  • LONG-ROLL COLLAR: cổ áo sơ mi nằm thấp ở phía trước với đỉnh 4 inches (10cm) và đủ để tạo nên hiệu ứng cuộn

 

  • LOOPING: những đường nối buộc bằng tay hay đan ở những chiếc áo len chất lượng cao, cũng được hoàn thành bởi những chiếc máy vòng để tạo hình ảnh như được làm bằng tay

 

  • LOUNGE SUIT: cái tên đầu tiên được đặt cho SACK SUIT, với áo một hoặc hai hàng khuy và chất liệu mềm cho ăn mặc nơi công sở

 

  • LOVAT: đặt tên theo Lord Lovat của Scotland, người ưa thích sự pha trộn của vải xanh dương mờ, xanh lá cây, màu tan và xám, gợi đến những màu sắc đơn độc của vùng đất ở Cao Nguyên

 

  • LOW-SLOPE COLLAR: đường phía trên của phần cổ áo gắn vào mà được làm hướng xiên cùng phần bản cổ thấp

 

  • MACKINAW: một loại chăn làm từ wool nặng, bề mặt nổi và mờ với họa tiết kẻ sọc hay kẻ ô lớn, dùng cho người Indian quanh vùng Fort Mackinaw, Michigan. Chất liệu làm chăn được sử dụng để làm áo khoác cho những thợ đốn gỗ. Chiếc áo này được làm hai hàng khuy, dài tới đầu ngón tay với ve tròn và dai thắt lưng ôm lấy quanh toàn bộ phần lưng được biết đến với tên “Mackinaw”.

 

  • MACKINTOSH: thuật ngữ được sử dụng ở Anh ngày nay để chỉ những chiêc áo mưa, còn được gọi tắt là “Mac”. Nhiều năm trước, nó là thuật ngữ để chỉ những chiếc áo mưa chông thấm nước màu đen bóng. Năm 1823, Charles Mackintosh, một nhà hóa học, đã đưa ra phương pháp liên kết bằng cao su giữa hai lớp vải để tạo ra loại vải chống nước đầu tiên

 

  • MAD AS A HATTER: cụm từ lần đầu được dùng vào năm 1810 cho William Henry Miller, thợ làm mũ người Anh nổi tiếng, người đã phải chịu những cơn say nắng và trở nên phát điên khi phải đi đầu trần băng qua những con đường của London tới House of Common.

 

  • MADDER: một loại cây từ Eurasia, từng được dùng là một loại thuốc nhuộm thảo mộc cho những chất liệu có tone màu mềm mại, của cà vạt, được gọi là cách nhuộm Madder. Cà vạt Madder được đặc trưng bởi sự sâu lắng, màu trầm và hiệu ứng bề mặt trông giống da lộn.

 

  • MADRAS: loại cotton dệt phẳng hay được pha chất liệu khác để có được những đường kẻ sọc đậm màu, họa tiết kẻ ô, dùng cho áo sơ mi và trang phục thể thao. Được lấy tên từ Madras, Ấn Độ, nguồn cung cấp đầu tiên.

 

  • MAGNETA: sắc thái của màu đỏ với những vết nhẹ màu tím, đặt tên theo trận Majenta (1859), nơi máu đã đổ rất nhiều

 

  • MANDARIN: thuật ngữ chỉ phần trên của Pijama với phần cổ đứng cao khoảng 1 inch (2,5cm) cùng phần trước cài bằng khuy hay móc, lấy cảm hứng từ phong cách trang phục truyền thống của người Trung Quốc Đại Lục.

 

  • MAO JACKET: chiếc áo cài khuy trước với cổ đứng khoảng 1 inch (2,5cm), được gọi như thế bởi nó được mặc trong phần lớn cuộc đời của Mao Trạch Đông, chủ tịch Đảng Cộng Sản Trung Quốc

 

  • MARCELLA: loại vải cotton dệt đôi- chéo (PIQUE) thường có họa tiết hình kim cương, dùng cho những chiếc áo Gilet trang trọng và sơ mi có yếm ngực. Tương tự, là chiếc sơ mi bán trang trọng dùng cho ban đêm, được quảng bá vởi nhà làm sơ mi Bond Street của London vào những năm 1930, và là sự thay thế cho những chiếc sơ mi cổ mềm, có ly trước và dùng vào ban đêm để mặc cùng Dinner Jacket. Những chiếc Marcell cổ bẻ, phần nửa yếm ngực phía trước, và French Cuff được làm bằng vải Pique trắng, với thân và tay áo được làm bằng voan trắng hay vải Pô-pơ-lin

 

  • MARE: sự phối hợp của hai hoặc ba màu sắc trong một sợi dùng trong dệt kim, như sản xuất tất và áo len, nhưng cũng dùng trong các loại vải dệt, chẳng hạn như tweed

 

  • MEDALLION: họa tiết đục lỗ nằm ở trung tâm phần mũi đôi giày

 

  • MELTON: loại vải len chắc chắn, bền bỉ thường làm từ cách dệt phẳng với những sợi ngắn, bề mặt nổi dùng để làm áo khoác ngoài. Vải Melton được đặt theo tên của thị trấn Melton Mowbray, vùng săn bắn của Anh nơi nó lần đầu được sử dụng.

 

  • MERCERIZED COTTON: loại vải dệt kim trơn, bóng, là kết quả của quá trình xử lý sợi cotton hay vải dưới một sức căng, với hỗn hợp có tính ăn mòn. Đặt theo tên của John Mercer, một thợ nhuộm màu cho vải, người đưa ra quy trình này vào năm 1844. Mercerizing ánh lên bởi sức căng của những sợi tạo nên nó, thêm vào độ thấm hút tốt, và hoàn thiện cho quá trình thấm màu nhuộm qua nó.

 

  • MERINO: giống cừu của Úc có dòng dõi từ Tây Ban Nha, sở hữu bộ lông có chất lượng cao, cũng là loại lông trắng nhất và có độ mềm mại tương tự Cashmere. Phát triển ở Tây Ban Nha bởi người Roman và Ả Rập, cừu Merino là tổ tiên của giống cừu sản xuất len tốt nhất trên thế giới. Loại len tốt nhất từ giống cừu này được đưa tới Anh vào năm 1808, len có chất lượng của những năm 1960 và tốt hơn nữa.

 

  • MESS JACKET: chiếc áo khoác quân đội bán trang trọng, dài ngang thắt lưng và có màu trắng, được ứng dụng cho ăn mặc dân sự như là tổ tiên của những chiếc Dinner Jacket trắng mùa hè

 

  • MILL FINISH: quá trình hoàn thiện vải len chải kỹ với bề mặt nổi nhẹ lên

 

  • MILLE STRIPE: thiết kế sơ mi với một đường chỉ đơn trông giống một mảng màu sắc, được đặt tên theo từ tiếng Pháp có nghĩa là “một ngàn đường kẻ sọc nhỏ”

 

  • MOCCASIN: Đôi Moccasin thực sự được làm từ một mảnh da không có đường nối, được mở rộng về mọi phía xuống phía dưới bàn chân và tạo hình cho phần gót, mặt bên và mũi giày. Phần trước của bàn chân được bao bọc bằng một mảnh da gọi là “plug”

 

  • MOCHA: sắc thái đậm, pha chút xám của màu nâu

 

  • MOCK TURTLE: một loại cổ áo dệt kim/đan với phần bản cổ rời gắn xuống trông giống với loại áo cổ rùa thấp

 

  • MOGADORE: dù là cách dệt sát với những đường gân cùng hiệu ứng bề mặt chắc chắn, Mogadore thực sự là FAILLE. Thường dùng với cà vạt sọc đặc trưng bằng sự lặp lại của họa tiết kẻ sọc bản rộng bao quanh bằng những đường kẻ sọc nhỏ tương phản. Ban đầu, lụa dệt phẳng được xử lý với keo Arabic vào một thời điểm, tạo nên những quy chuẩn của nó, xuất khẩu từ cảng Mogadore

 

  • MOHAIR: loại vải phẳng, bóng được làm từ những sợi lông dài, mềm mại của dê Angora. Cách nhuộm của nó giúp nó trở nên lý tưởng cho ăn mặc trang trọng vào mùa hè và những bộ suit. Ngày nay, mohair thường được pha với những loại len chải kỹ khác nhau, tạo nên loại vải trông ít bóng hơn, nhưng mềm mại và giữ dáng tốt hơn. Từ tiếng Ả Rập để chỉ lông dê, mukhayya, sau này được gọi thành “mockhaire”

 

  • MOIRE: vẻ ngoài có vân sóng của vải lụa-nhung hay các loại chất liệu khác, đa phần là cách dệt FAILLE hay TAFFETA, với những phần cuộn lên. Thuật ngữ này ban đầu để chỉ chất liệu với những giá trị tuyệt vời được đề cập trong các tài liệu của Pháp vào thế kỷ 15 và 16. Khi vẻ ngoài đó của lụa trở nên thời trang vào thế kỷ 18 ở Pháp, từ moire được sử dụng cho chúng.

– HẾT PHẦN IIX