• Series bài dịch từ bản tiếng Anh chính thức của cuốn Dressing the Man, tác giả Alan Flusser; do Dexterlegant thực hiện với sự giúp sức của các cá nhân: Nhân Nguyễn, Nhân Lê.
  • Sách có độ dày 320 trang, phần nội dung chính dự trù là 9 vạn chữ, sẽ được chia ra Post thành nhiều phần theo sự biên tập của Dexterlegant.
  • Dexterlegant xin phép lược bỏ phần Lời mở đầu của cuốn sách và bắt đầu dịch từ chương đầu tiên
  • Bản dịch hướng tới việc bám sát bản gốc nhất có thể, cả về nội dung, hình thức trình bày và hình ảnh minh họa.
  • Đây là bản dịch không chính thức, không được kiểm duyệt bởi tác giả hay bất kỳ cơ quan/ tổ chức có chuyên môn thẩm quyền nào.
  • Dự án này do cá nhân Dexterlegant triển khai, không có bất kỳ mối liên quan nào tới vấn đề phát hành, quảng cáo, biên soạn của tác giả.

 

GLOSSARY

PHẦN X

 

  • PEAKED LAPEL: ve áo được cắt với đường xéo hướng lên phía trên, đi tới đỉnh và chỉ có một khoảng hở nhỏ giữa cổ áo và ve áo. Thường gặp ở áo hai hàng khuy, nhưng đôi khi là áo một hàng khuy. Phong cách ve của tailcoat tạo cho suit hay áo khoác thể thao hình ảnh trang trọng hơn.

 

  • PLAU DE SOIE: từ tiếng Pháp nghĩa là “ da của lụa” để chỉ bề mặt tốt, gồm cả phần hạt hay bề mặt giống như da. Mềm, mờ, vải satin được dệt giống FAILLE nhưng với những đường gân tốt và bề mặt mượt mà được tạo ra

 

  • PEBBLE WEAVE: loại vải với bề mặt thô được tạo bởi cách dệt đặc biệt hay những sợi xoắc cao độ và co lại khi bị ướt

 

  • PEG: sự mô tả cho phần chân bên ngoài của quần Âu kéo dài từ giữa túi hông xuống tới đầu gối. quần Âu Peg-top được cắt đầy và rộng từ trên hông và có phần dưới bó.

 

  • PEN POCKET: phần đặc biệt nằm trong chiếc túi lớn hay chiếc túi hẹp tháo rời, thường nằm bên trong túi áo jacket nam, để chứa bút

 

  • PENCIL STRIPE: những đường kẻ sọc đẹp, hay hoặc ba sợi WARP rộng, liên tưởng tới những đường được vẽ bằng bút chì trên vải may suit cho nam, với màu sắc hài hòa hoặc tương phản với màu nền.

 

  • PERMEABILITY: tính năng đặc trưng cho vải với khả năng cho phép không khí, nước và mồ hôi lưu thông bên trong các lớp của nó.

 

  • PICK: xem FILLING

 

  • PICK-AND-PICK: thuật ngữ chỉ những họa tiết được dệt khéo léo với sợi FILLING đơn trong những màu sắc khác nhau

 

  • PIECE-DYED: thuật ngữ áp dụng cho chất liệu được nhuộm sau khi được dệt, trái ngược với YARN-DYED

 

  • PIECE GOODS: chất liệu tạo ra bởi phần sợi có nhiều độ dài khác nhau

 

  • PILLING: cấu trúc của một nhóm sợi ngắn/bị gãy nằm trên bề mặt của chất liệu, được làm rối xù lên với hình dáng của những quả bóng nhỏ, được gọi là “pill”. Pills được tạo bởi phần cuối của sợi lông hay len rời từ bề mặt vải.

 

  • PIMA COTTON: sợi cotton dài, phát triển ở vùng tây nam nước Mĩ, đặt theo tên của Pima Country, Arizona. Được tạo ra bằng cách lai tạo các giống của Mĩ và Ai Cập, Pima cotton chỉ được thấy ở sơ mi chất lượng cao

 

  • PIN CHECK: họa tiết kẻ ô với kích thước tương tự đầu đinh ghim, nhỏ hơn họa tiết kẻ ô của những người chăn cừu (shephred’s check) , được làm bởi cách dệt end-to-end với các sợi nhiều màu sắc thêm vào, dùng cho suit, trang phục thể thao và sơ mi

 

  • PIN DOT: giống như họa tiết mắt chim nhưng nhỏ hơn, họa tiết chấm nhỏ tương tự với kích thước đầu đinh ghim, thường dùng trong suit

 

  • PINPOINT OXFORD: một dạng của sơ mi với trọng lượng nhẹ hơn và chất lượng tốt hơn so với vải oxford thông thường.

 

  • PIN WALE: vải nhung gân với những đường gân rất hẹp

 

  • PINK: sắc thái nhạt của màu đỏ

 

  • PINKING: cách cắt theo những cạnh của vải theo đường díc dắc, răng cưa; được thiết kế để ngăn ngừa việc bị xơ

 

  • PINNED COLLAR: bất kì loại cổ áo sơ mi nào như cổ tròn hay straight-point có phần đỉnh được làm để giữ được phần đinh ghim. Nếu cổ áo có phần lót sợi tự nhiên thay vì dán ép, lỗ của đinh ghim sẽ bị đóng lại trong quá trình giặt.

 

  • PINSTRIPES: những đường kẻ sọc với độ rộng bằng những chiếc đinh ghim, là kết quả từ việc dùng những sợi màu trắng, xám, hay những sợi khác trong chuỗi những sợi WARP của vải chải kỹ

 

  • PIPING: những đường gân, bện hay gấp hẹp dùng để hoàn thiện hoặc trang trí cho cạnh viền hay phần túi của trang phục

 

  • PIQUE: loại vải có những đường gân tạo nên bề mặt nổi của nó theo chiều ngang, từ bìa bên này sang bên kia. Đôi khi được dệt để tạo họa tiết tổ ong hay hiệu ứng của bánh kếp, được dùng cho phần yếm ngực của sơ mi và những chiếc Gilet trang trọng. thuật ngữ này đến từ tiếng Pháp để chỉ “những mũi thương” hay “mũi khoan”

 

  • PLACKET: phần vải tách rời được nối vào áo sơ mi phần trước hay tay áo, để bảo vệ phần lỗ khuy, tạo cấu trúc và hoàn thiện.

 

  • PLAID: thiết kế giống như những chiếc hộp tạo bởi các đường kẻ sọc với các độ rộng khác nhau chạy dọc và ngang của vải. Bắt nguồn “plaid” là vải với những hình chữ nhật dài cùng họa tiết tartan ( thường là họa tiêt kẻ ô người chăn cừu- shephred’s check- màu trắng-đen) được khoác lên vai cả ngày; và vào ban đêm, những người chăn cừu Scotland dùng nó để trùm lên người.

 

  • PLAIN BOTTOM: quần không có cuff

 

  • PLAINS WEAVE: cách dệt quan trọng nhất, đơn giản nhất, và phổ biến nhất trong tất cả các cách dệt, với sợi FILING đi ngang qua một sơi WARP và nằm dưới sợi tiếp theo, liên tiếp đan xen với những sợi khác

 

  • PLEAT: phần gấp của vải nằm ép hay khâu vào để giữ yên ở vị trí của nó. Cũng là chiếc phần ống nhỏ của quần bộ suit thời Edward với phần trên rộng, có ly hay phần gấp nếp nằm dưới waistband để hỗ trợ cho khi ngồi. Quần có ly đặc trưng bởi phần trên rộng ra tự nhiên khi ngồi, và thu gọn là theo những đường dọc khi đứng

 

  • PLEATED BOSOM: phần yếm ngực sơ mi mềm tạo bởi những đường gấp ¼ hay ¾ inches (0,6 tới 1,8cm) chạy dọc và kết thúc cách một khoảng ngắn phía trên chiếc quần của người mặc, và độ rộng cũng không lớn hơn đai giữ quần.

 

  • PLUGGING: quá trình tạo lỗ trên vải, buộc phần chân của những chiếc nút lại, và giữ nó ở mặt bên kia bằng một nút bịt của LINEN, SILESTA hay những loại chất liệu khác. Dùng trong trang phục quân đội, hay khuy áo Blazer với chất liệu kim loại, nếu không được cài vào trong lỗ, nó sẽ không nằm phẳng trên bề mặt vải

 

  • PLUS-FOURS: xem KNICKERBOCKERS

 

  • PLY: một sợi lớn được tạo thành bằng 2 hay 3 sợi khác được xoắn lại với nhau. Thuật ngữ được áp dụng trong bảng phân loại, ví dụ như ply đơn, 2 ply hay 6 ply…

 

  • POCKET: túi được làm bằng vải của trang phục

 

  • POINT-TO-POINT: số đo của độ rộng vai áo jacket. Khoảng cách giữa 2 đỉnh của vai, với mỗi đỉnh được tính là phần đường nối phía trên của vai gặp đỉnh của tay áo tại đường nối của cổ, sau đó chạy dọc theo phần lưng của cổ áo qua vai phía bên kia, cùng với số đo nửa lưng, hai số đo này sẽ điều khiển độ rộng của vai áo.

 

  • POLKA DOT: thiết kế được biết đến như là sử dụng lâu nhất cho phụ kiện vùng cổ, ban đầu là để tưởng nhớ tới thần mặt trời

 

  • POLO COAT: áo một hoặc hai hàng khuy làm từ lông lạc đà hay cừu non với tay áo Raglan, túi đắp có nắp, tay áo có cuff, và thắt lưng nửa hoặc đủ. Tổ tiên của chiếc áo Mĩ cổ điển này là từ những sân Polo thời Edwardian, khi trang phục thể thao được các thợ may của họ bỏ bớt đi cho phần vai, những chiếc “waistcoat” nằm giữa “chukka” và tạo ra thuật ngữ này. Brook Brother là nhà kinh doanh lớn nhất với việc giới thiệu những chiếc Polo Coat ra ngoài sân đấu

 

  • PONGEE: lụa trọng lượng nhẹ, hiệu ứng bề mặt nhẹ với cách dệt phẳng và sắc thái tự nhiên, cho suit mùa hè và trang phục thể thao. Pongee có xuất phát từ tiếng Trung Quốc punchi “dệt tại nhà” hay pun-shi (gần với lụa thô)

 

  • POOR-BOY SWEATER: áo len fit rộng, dệt kim có những đường gân được làm với cổ cao và tròn hay cổ rùa. Xuất hiện từ những năm 1960 từ một loại áo được mặc bởi các cậu bé giao báo vào đầu thế kỷ 20

 

  • POPLIN: loại vải dệt phẳng, chặt với những đường gân được tạo bằng cách dùng các sợi WARP nặng và thô thơn là sợi WEFT. Thường được xử lý bằng thủy ngân để bóng hơn, Poplin có hiệu ứng bề mặt nặng hơn là pô pơ lin. Ban đầu nó là loại lụa dành cho lễ phục nhà thờ, thuật ngữ này đến từ tiếng Pháp papelines, khi loại vải này được làm ở Avignon, thành phố của Giáo Hoàng

 

  • PORK PIE: loại mũ phớt thể thao hay các loại chất liệu khác, với phần mặt trên đỉnh mũ phẳng tương tự những chiếc bánh thịt heo. “A Head of its Time” hay tạp chí Esquire, giới thiệu nó vào những năm 1930. Ban đầu, phần lót thấp của chiếc mũ này bị chế giễu, nhưng nó đã đột phá, thiết lập nên thời trang cho các thành phố cũng như là trường đại học với những màu sắc khác nhau, sau này trở thành thuật ngữ trong ngành kinh doanh mũ.

 

  • PRINCE OF WALES CHECK: cái tên dài, nhưng không chính xác, dùng cho họa tiết kẻ ô GLENURQUHART và các loại họa tiết tương tự với phần nền màu sắc. Họa tiết Prince of Wales chính hiệu được thiết kế bởi vua Edward VII, ông của Duke of Windsor, khi ông còn là hoàng tử xứ Wales, như trang phục săn bắn hàng ngày ở Abergeldie House của Scotland. Nó là họa tiết tương tự như Glenurquhart nhưng gần gấp 2 lần kích cỡ của nó, với sự lặp lại màu sắc của nâu-đỏ trên nền trắng, với phần kẻ ô màu xám.

 

  • PRINCE OF WALES COAT: chiếc top coat ngắn, fit rộng, tay áo raglan, một hàng khuy và vạt trước mở với ve áo ngắn và dày, túi áo xẻ dọc. Câu chuyện của chiếc áo bắt đầu khi hoàng tử xứ Wales nhìn thấy nguyên bản của nó qua khung cửa sổ các cửa hàng ở Edinburgh, ưa thích nó, bước vào và mua nó về.

 

  • PRINT: họa tiết được đưa lên vải bằng cách lăn đều nó trên nền hoặc các cách tạo áp lực khác

 

  • PROMINENT SEAT: người với phần mông lớn hơn trung bình, lý do dẫn đến phần mông chật của áo khoác và quần.

 

  • PRUNFILA: loại chất liệu tốt với cách dệt chéo bề mặt từ hai sợi WARP lên và hai sợi xuống. vải chải kỹ của Anh vào thế kỉ 18 được làm bằng 3 khung cửi chéo và thường nhuộm màu tím đậm hay màu mận chín. Thuật ngữ lấy từ tiếng Pháp Prunella, nghĩa là “quả mận”

 

  • PUFFS: thuật ngữ cũ của các thợ may để chỉ đường xẻ bên của áo Gile.

 

– HẾT PHẦN X