• Series bài dịch từ bản tiếng Anh chính thức của cuốn Dressing the Man, tác giả Alan Flusser; do Dexterlegant thực hiện với sự giúp sức của các cá nhân: Nhân Nguyễn, Nhân Lê.
  • Sách có độ dày 320 trang, phần nội dung chính dự trù là 9 vạn chữ, sẽ được chia ra Post thành nhiều phần theo sự biên tập của Dexterlegant.
  • Dexterlegant xin phép lược bỏ phần Lời mở đầu của cuốn sách và bắt đầu dịch từ chương đầu tiên
  • Bản dịch hướng tới việc bám sát bản gốc nhất có thể, cả về nội dung, hình thức trình bày và hình ảnh minh họa.
  • Đây là bản dịch không chính thức, không được kiểm duyệt bởi tác giả hay bất kỳ cơ quan/ tổ chức có chuyên môn thẩm quyền nào.
  • Dự án này do cá nhân Dexterlegant triển khai, không có bất kỳ mối liên quan nào tới vấn đề phát hành, quảng cáo, biên soạn của tác giả.

 

GLOSSARY

PHẦN XI

 

  • PUGGAREE: loại vải dệt xếp ly, màu trơn hoặc có họa tiết, dùng cho mũ rơm hay mũ phớt. loại vải tương tự lần đầu được mặc ở Ấn Độ.

 

  • PUMP: loại giày nam tiêu chuẩn cho những dịp trang trọng. không ai có thể khẳng định Pump bắt nguồn từ đâu. Thuật ngữ lần đầu được dùng suốt thời Elizabeth khi nam giới và những người hầu gọi là “pumps”, đi đôi giày với đế da mỏng. Nó liên hệ tới những đôi giày đi trong nhà được fit rộng, nằm phẳng khi lên và xuống như khi họ đi qua những cầu thang bằng đá cẩm thạch, âm thanh nghe như tiếng vòi nước chảy. Dù Pump bắt đầu như là đôi giày cho các nông dân, nó được chấp nhận như là đồng phục cho những người hầu nam. Cuối những năm 1700, những đôi slip-on đế thấp với phần nơ phẳng cuối cùng cũng du nhập vào xã hội như là đôi giày cho các quý cô ăn mặc thời trang ở London. Sau này, nó trở thành trang phục tiêu chuẩn cho nam giới.

 

  • PUNCHING: phần đục lỗ để tạo ra hiệu ứng trang trí cho đôi giày.

 

  • PURL: mũi chỉ trong dệt kim với sợi được đẩy lồi lên khỏi bề mặt của vải hướng về mặt sau như là một vòng mới được tạo ra. Phần đảo ngược của mũi dệt kim phẳng, nó tạo nên các hàng theo chiều ngang. Với đan bằng máy, mũi purl được làm bằng máy link-and-links

 

  • PURPLE: màu pha giữa xanh dương và đỏ. Màu sắc này có liên quan tới trang phục của các hoàng đế Rome cổ đại, thường có màu đỏ thẫm

 

  • QUARTER: phần lưng hoàn thiện và mặt trên của đôi giày khi nối với phần VAMP.

 

  • RAGLAN: chiếc Topcoat fit rộng với tay áo full-cut kéo dài từ Armhole tới tận cổ áo ở trước và sau, thường là áo một hàng khuy với khuy phía trước, ve chữ K, và cuff được lật ngược. Đặt theo tên của Lord Raglan, vị tướng huyền thoại trong cuộc chiến Crimean, người đã cho binh lính của mình khoét những cái lỗ trên áo choàng của mình, khâu những phần gấp lại theo hình trụ cho đôi tay của họ để bảo vệ chúng khỏi cái lạnh vùng Balaclava. Một câu chuyện khác nói rằng Raglan yêu cầu từ thợ may của ông thiết kế áo khoá phù hợp với cánh tay bị mất trong trận chiến của mình.

 

  • RAYON: sợi dệt làm tự sợi cellulose tái tạo bằng sợi nhân tạo hay quá trình xử lý với dung dịch có màu xanh dương đậm. Thuật ngữ này được tạo ra năm 1924 bởi Kennedy Lord, người mua loại sợi bóng này.

 

  • REEFER: chiêc overcoat hay áo khoác ngắn, hai hàng khuy làm bằng vải nặng ban đầu được mặc bởi các ngư dân. Ban đầu, nó được cài một bên nên các khuy áo nằm tập trung sẽ không nằm trên một đường thẳng khi ở trên cao. Ngày nay, nó là chiếc áo cơ bản của các sĩ quan hải quân Hoàng Gia Anh và là tổ tiên của những chiếc áo hai hàng khuy., Tương tự, là chiếc overcoat một hoặc hai hàng khuy fit, được may. Tương tự, là khăn quàng cổ.

 

  • REP-REPP: vải dệt sát có gân với những đường nằm ngang tạo nên bởi sự bao phủ cách sợi FILLING, sợi WARP ở các hàng thông thường của vải. Nó chấp nhận thêm họa tiết kẻ sọc với những đường gân chạy ngang qua vải trong khi dệt. Nó dùng lần đầu trong cà vạt và phụ kiện. thuật ngữ bắt nguồn Pháp vào thế kỷ 18, từ rib.

 

  • REPEAT: thiết kế được lặp đi lặp lại trên vải, cũng là số sợi trên mỗi inch yêu cầu để hoàn thiện một thiết kế.

 

  • RESPROCESSED WOOL: sợi wool được làm trước đó nhưng không dùng đến, nó sẽ bị tháo ra, làm lại với quy trình tạo form, quay và dệt thành vải mới

 

  • RESILIENT CONSTRUCTION: cách thức sản xuất cà vạt, phát minh đầu những năm 1920s bởi Jessie Langsdorf, với phần trên và phần lót cắt theo đường chéo được giữ cùng với nhau bởi các mũi chỉ vững chắc, để khi chiếc cà vạt hoàn thiện sẽ căng ra và che phủ lại khi thắt. tất cả cà vạt tốt đều cắt theo đường chéo, giúp nó được thắt chính xác,không bị xoắn từ phần cổ, và giữ được dáng khi không thắt.

 

  • REVERS: tên gọi khác của ve áo, thường là bề mặt của ve áo, được gấp ngược lại để phô ra mặt bên kia của cổ áo và ve áo

 

  • REVERSE PLEAT: ly quần được gấp hay có bề mặt mở hướng ra phía túi quần. Ban đầu được gọi là ly quần Continental, trái ngược với ly quần xuôi của người Anh. Ly ngược làm chiếc quần phẳng hơn phía trước hơn là quần ly xuôi.

 

  • RIDING BOOTS: đôi bốt da cổ cao fit với chân, thiết kế đặc biệt cho việc cưỡi ngựa.

 

  • RISE: khoảng cách từ phần háng tới phía trên waistband của quần, ví như rise thấp hay rise cao; hay là sự khác biệt giữa OUTSEAM và INSEAM của phần ống quần.

 

  • ROLL COLLAR: xem SHAWL COLLAR

 

  • ROPE SOLE: đế giày được làm bằng các sợi bện lại và đưuọc giữ bằng chỉ khâu hoạc dán

 

  • ROYAL OXFORD: loại vải bóng, chỉ số cao, ban đầu làm áo sơ mi của người Anh được làm bởi cách dệt đan rổ với sợi 2 ply.

 

  • RULE OF THUMB: thuật ngữ xuất phát từ một thói quen có từ xa xưa là dùng ngón cái như một dụng cụ đo. Thời kỳ hiện đại hơn, nó được biết đến như là các tiêu chuẩn hướng dẫn với khoảng áp dụng rộng, không phải là sự thuyết giáo.
  • RUSSET: cách nhuộm với thuốc nhuộm tạo màu nâu đậm.

 

  • SACK SUIT: chiếc áo ít cấu trúc (hơn là suit) với những đường nét thẳng, vai tự nhiên đệm nhẹ và chiết eo ở trước ( điều này có nghĩa rằng chiếc áo có một chút ôm dáng ở phần eo. Lần đầu được phổ biến bởi các sinh viên của Ivy League vào đầu những năm 1920s, hình thái này là cơ bản của Brooks Brothers, thời trang “tự nhiên” của người Mĩ trong 60 năm sau

 

  • SADDLE SHOE: đôi giày oxford có phần lace với phần đai da đi qua phần mu chân có cùng màu sắc với phần còn lại của đôi giày, hoặc có màu sắc tương phản như là nâu hoặc đen với màu trắng

 

  • SALT AND PEPPER: hiệu ứng lốm đốm trên bề mặt vải tweed hay các loại vải khác, tạo ra bằng cách làm nổi màu đen và trắng, nâu và trắng…

 

  • SANDAL: đôi giày với phần để cùng quai da phần trên ở phía trước và đai da có khóa chạy từ phía sau ra tới tận mu chân. Đôi khi chúng chạy ngang qua các ngón chân ở phía trước

 

  • SANDUNE: sắc thái vàng của màu Tan, lần đầu xuất hiện trong thời trang như là sắc thái mới của Gabardine cho quần thể thao, đặt ra bởi Esquire “Apparel Art” những năm 1940

 

  • SANFORIZED: quá trình nén và làm co rút để đảm bảo rằng phần vải co rút thêm không vượt quá 1%, dùng lần đầu cho Sơ mi. tên thương hiệu được sở hữu bởi công ty Sanforized, công ty con của Cluctt, Peabody

 

  • SATIN: loại vải bóng dệt sát được tạo ra với cách dệt từ cho phép những sợi WARP xuất hiện nhiều trên bề mặt của vải, kết quả là tạo ra bề mặt bóng và mặt kia mờ. Làm từ lụa hay các loại sợi tổng hợp, satin được dùng cho phụ kiện vùng cổ, hay trong ăn mặc trang trọng như sự thay thế cho Grossgrain.

 

  • SAVILE ROW: những cơ sở thời trang danh tiếng được xây dựng bởi Earl of Burlington và đưuọc đặt theo tên vợ của ông, Dorothy Savile. Ngày nay, là tên của vùng phía Tây London với nhiều nhà may ở đây. Mãi đến khi Beau Brummel tạo nên sự thịnh hành của may đo Bespoke từ vải wool cuối thế kỷ 18, Savile Row trở thành thánh địa về may đo chất lượng cao vẫn duy trì được uy tín cho tới tận ngày nay.

 

  • SAXONY: Vải được đặt theo tên từ loại wool chất lượng cao ở vùng Saxony, Đức; trên thực tế thì được người Anh, như là Edward VII, ưa thích chúng để mặc trên vùng đất của họ. Cái tên được chấp nhận cho loại wool hoàn thiện mềm với chất lượng tốt, hiệu ứng với những sợi nhiều màu sắc dùng cho vải tweed, để làm suit, jacket và quần.

 

  • SCHAPPE: một loại lụa thừa được đặt tên theo từ Hacher, có nghĩa là “để chặt hoặc cắt ra”. Loại lụa này sẽ được cắt thành nhiều sợi ngắn và trộn với nhiều loại sợi khác để quay tạo sợi, nó sẽ bền nhưng có độ bóng bất thường.

 

  • SCOTCH GRAIN: cách nhuộm màu xuất phát từ loại da được nhuộm bằng chrome nặng với bề mặt có hiệu ứng như những viên đá cuội, được giữ lại sau khi gò theo last, ban đầu được làm ở Scotland và Anh cho những đôi giày đục lỗ của mình. Hiệu ứng bề mặt này giúp đôi giày có cái nhìn rất thể thao.

 

  • SCOTCH TWEED: loại tweed được dệt bằng 2 sợi xoắn đi lên và 2 sợi xoắn chạy xuống. nó có bề mặt xù xì và hiệu ứng khác thường.

 

  • SCREEN PRINTING: loại vải in màu bằng những tấm màn lưới với những vùng riêng biệt được xử lý để tránh bị loang màu. Những nguyên liệu tạo màu được ép lên bề mặt theo từng phần của vải dưới những vùng chưa được xử lý. Mỗi màu trong thiết kế lại yêu cầu một tấm màn riêng biệt

 

  • SEA ISLAND COTTON: loại cotton sợi dài chất lượng cực kỳ tốt, bóng và bền bỉ, ban đầu sinh trưởng ở vùng thuộc địa nước Anh tại biển Caribean. Ngày nay, nó được trồng tại các đảo ở bờ biển phía nam Georgia, nam Carolina và ở West Indie. Cotton Sea Island chỉ được dùng để làm những chiếc Sơ mi với chất lượng cao nhất.

 

  • SEAM: phần của trang phục nơi các cạnh của hai mảnh vải được nối lại với nhau.

 

  • SEAT ALLOWANCE: thông thường nó là 2 hoặc 3 inch (5 tới 7.5cm) vải được thêm vào của chiếc quần cho phép phần mông được mở rộng thêm khi ngồi.

 

  • SEERSUCKER: loại vải có thể giặt được từ cotton hay vải pha, với những đường kẻ sọc nhăn tạo ra bằng cách thay đổi độ căng của những sợi WARP. Lần được được khám phá bởi người Anh tại Ấn Độ như là một loại lụa, thuật ngữ này xuất phát từ tiếng Hindi sirlakar (tiếng Ba Tư shir a shakar, nghĩa là “sữa và đường”)

 

  • SELF LOOP: những vòng được tạo bởi cùng loại chất liệu ngoài, như ở phần cà vạt nằm ở dưới mặt trên của nó, thông qua đó để nằm cố định tại chỗ. Nếu không có phần Self loop, thì phần nhãn của cà vạt sẽ làm thay chức năng này. Những chiếc cà vạt handmade chất lượng hàng đầu duy trì phần self loop bằng cách gắn mặt dưới của chúng với đường nối trung tâm mặt sau của cà vạt.

 

  • SELF PATTERN: thiết kế dệt có cùng sắc thái giống phần nền của vải

 

  • SELF TIPPING: xem FRENCH TIPPING

 

  • SERLAGE: tương tự như phần cạnh của tấm vải, dệt từ những sợi đặc biệt với trọng lượng nặng., thường là màu sáng, để củng cố thêm hoặc tránh việc phần sợi bị tách rời ra. Phần này được tạo form đặc trưng trong khi dệt để đại diện cho đặc tính hoặc phân lớp của những loại vải thông thường. vài nơi thì đánh dấu tên hay thương hiệu trên phần này. Ban đầu, thì từ này được viết là “self-edge”

 

  • SEMIFORMAL: thuật ngữ áp dụng cho Black tie hơn là white tie

 

  • SENNIT: chiếc mũ cói cứng với cạnh viền phẳng với phong cách thủy thủ, phổ biến trong những năm 1880s, là độc quyền cho những ngày hè để mặc với Dinner jacket cũng như là đồ thể thao hay blazer

 

– HẾT PHẦN XI