• Series bài dịch từ bản tiếng Anh chính thức của cuốn Dressing the Man, tác giả Alan Flusser; do Dexterlegant thực hiện với sự giúp sức của các cá nhân: Nhân Nguyễn, Nhân Lê, Nguyên.
  • Sách có độ dày 320 trang, phần nội dung chính dự trù là 9 vạn chữ, sẽ được chia ra Post thành nhiều phần theo sự biên tập của Dexterlegant.
  • Dexterlegant xin phép lược bỏ phần Lời mở đầu của cuốn sách và bắt đầu dịch từ chương đầu tiên
  • Bản dịch hướng tới việc bám sát bản gốc nhất có thể, cả về nội dung, hình thức trình bày và hình ảnh minh họa.
  • Đây là bản dịch không chính thức, không được kiểm duyệt bởi tác giả hay bất kỳ cơ quan/ tổ chức có chuyên môn thẩm quyền nào.
  • Dự án này do cá nhân Dexterlegant triển khai, không có bất kỳ mối liên quan nào tới vấn đề phát hành, quảng cáo, biên soạn của tác giả.

 

CHƯƠNG I: PERMANENT FASHION

PHẦN II

Cuộc Đại Suy Thoái, chỉ trao quyền được mặc đẹp cho một số người may mắn đủ khả năng chi trả. Tình trạng chung của việc kinh doanh buộc phải loại bỏ dần những thứ rườm rà không cần thiết, hoặc những kẻ chạy theo thời trang, để cho những người đàn ông có địa vị, ảnh hưởng xã hội lên dẫn đầu. Các thói quen ăn mặc mới, các hoạt động của xã hội chiếm trọn hết sự chú ý trên các tạp chí thời trang.  Thời vận cũng như sự bạo dạn đã thúc đẩy họ ứng biến, phá vỡ nhưng quy tắc và rào cản xã hội. Trớ trêu thay, sau thời kỳ suy thoái là đánh dấu thập kỷ huy hoàng nhất trong ăn mặc nam giới thế kỷ XX.

Thời kỳ thế chiến chấm dứt đã chỉ rõ rằng, trước khi tầng lớp bình dân tham gia vào một kiểu cách ăn mặc, thì tầng lớp thượng lưu phải tiên phong đi trước. Sự thay đổi nào về thời trang, cũng cần được sự chấp nhận của một số người, vốn được coi là hình mẫu thời trang thời đại đó. Chỉ khi được chấp nhận đầy đủ, nó mới được xuất hiện trên những cuốn kinh thánh về thời trang như Apparel Arts hay Esquire magazines, quảng bá chúng trong cộng đồng. Cũng giống như appellation d'origine contrôlée ở Pháp (trans: bảo hộ thiết kế nguyên bản) mỗi món đồ đều cần được sự thông qua, trước khi nó được chứng nhận là thời trang nguyên bản.

Nếu hệ thống này không đủ để xây dựng niềm tin cao độ ở người tiêu dùng, thì nhà sản xuất sẽ phải chịu trách nhiệm làm việc đó. Quan điểm này là chủ đề chính trong nhiều tháng liền, vào những năm 30.

 

 

( Ảnh minh họa: quá trình các thiết kế của thời kỳ 1930s trở thành kinh điển trong thời trang)

 

Vào những năm ba mươi, những mốt thời trang mới xuất hiện ồ ạt. Phục trang buổi tối và buổi sáng được thay thế bởi những món bớt trang trọng hơn như dinner jacket, bộ suit 3 mảnh, và áo sơ-mi với cổ không lót được may hẳn vào thân áo. Thời gian nhàn nhã với họ ngày càng tăng, những bộ trang phục phối áo khoác riêng lẻ với quần âu, phục trang khi đi xem thể thao, và tất cả những món quần áo được may với vải có trọng lượng nhẹ đã trở thành mốt lúc bấy giờ. Chàng trai sành điệu độ ba mươi thời ấy khao khát được một lời khuyên đầy đủ và mang tính cá nhân. Và kì diệu thay, điều đó chính xác là thứ anh ta có được! Bởi vì những thiếu sót trong lĩnh vực đồ may đo ở Hoa Kỳ và uy thế của tất cả những huyền thoại Anh Quốc trong ngành may mặc của đàn ông, bao gồm những người ngay trong thời chiến, Hoa Kỳ đã tự mày mò để phát triển qua quá trình cóp nhặt những tinh hoa của rất nhiều nền văn hóa để trở thành quốc gia ăn mặc đẹp nhất thế giới. Những tấm ảnh của những quý ông đi dự những sự kiển thể thao hay đơn giản chỉ là đi làm đã ủng hộ luận điểm trên.

 

 

(Ảnh minh họa: 3 người đàn ông có tầm ảnh hưởng trong xã hội: William Rhinelander Stewart, công tước xứ Sutherland và Charlie Munn)

 

Từ đầu những năm 20s cho đến cuối những năm 30s của thế kỷ trước, những người mặc đẹp và có tầm ảnh hưởng đến xã hội như Charlie Munn và Milton Holden, đã góp phần nâng cao nhận thức ăn mặc của phần đông nam giới. Những ngôi sao màn bạc như Fred Astaire, Humphrey Bogart, Gary Cooper, Douglas Fairbanks, Clarks Gable, Cary Grants, Adolphe Menjou cũng đồng thời đem đến ảnh hưởng không nhỏ tới gu thẩm mỹ của toàn dân. Thậm chí ở Anh, thuật ngữ "Hollywoods Raj" còn được dùng để chỉ những người có tác phong thanh lịch và ăn mặc như những peacock đến từ Piccadily (trans: một con phố ở London), ví dụ như David Niven, Ronald Coleman, Errol Flynn và Bassil Rathbone. Và không thể không nhắc tới hoàng tử xứ Wales, người có ảnh hưởng toàn cầu tới phong cách ăn mặc của đàn ông.

 

(Ảnh minh họa: Basil Rathbone, thành viên của "Hollywood Raj" thể hiện phong cách của mình)

 

Yếu tố thứ hai chịu trách nhiệm phát triển thời trang nam ở thời điểm này chính là sự ảnh hưởng của thị hiếu về "bespoke" – hay được gọi là "London look". "Drape" suit của Anh hay mọi loại trang phục gắn mác "Briddish" được xem như tinh hoa của vẻ ngoài nam tính.

Những năm 30s đại diện cho kỷ nguyên cuối cùng của lý tưởng ăn mặc "bespoke fashion" của đàn ông. Thời điểm này, ăn mặc vẫn là một cách để thể hiện đẳng cấp của bản thân; trang phục may đo đem đến cho chủ nhân của chúng một diện mạo vượt trội về đẳng cấp. Với xu hướng được tạo ra bởi những doanh nhân quốc tế, các quý tộc châu Âu hay minh tinh màn bạc, trình độ ăn mặc của quần chúng không ngừng được nâng cao.

Thậm chí ngày nay, sau 7 thập kỷ, những người đàn ông mặc đẹp nhất vẫn theo đuổi trang phục customade dưới những hình thức khác nhau. Không giống như ngày hiện tại, khi mà thời trang được định hướng bởi các nhà thiết kế và các cửa hàng; hồi những năm 30s, những người theo đuổi việc mặc đẹp học được rằng phong cách là sự phát huy chính bản thân thay vì những thứ phù du bủa vây.

Chất xúc tác thứ 3 đưa phong cách của đàn ông Hoa Kỳ lến đỉnh cao chính là những người đứng đầu trong xã hội. Trong thế kỷ 19, phục trang của nam giới bị chi phối bởi con trai của tầng lớp gentry, trong khi tầng lớp quý tộc mới và tầng lớp thượng lưu chi phối phục trang những năm 20s tới 30s.

Trong những năm 30s, sự thoải mái và thể hiện của phong cách cá nhân vẫn có giới hạn, vẫn có những điều là đúng và sai trong việc mặc những loại trang phục nhất định trong những dịp khsc nhau. Khi mà một loại trang phục đã được xác định vị trí, thì không cần phải băn khoăn về sự phù hợp của nó. Về nguyên tắc, việc này không gì ngoài sự đồng thuận và chấp nhận của xạ hội.

Cho tới cuối những năm 50s, sự đa dạng trong trang phục của đàn ông vẫn chưa nhiều, đàn ông hầu hết đều biết nên mặc gì trong những hoàn cảnh cụ thể. Trên thực tế, ít nhất ở Mỹ, trước Peacock revolution, vẫn có những quy tắc ngầm về những thứ cấu thành nên một gu thẩm mỹ trình độ cao.

Nhưng cuối những năm 60s lại là lúc tầng lớp trung lưu buộc những quy cách ăn mặc của tầng lớp thượng lưu phải nhường chỗ cho sự tự do của tuổi trẻ và phong cách đường phố. Với sự tiếp diễn của việc thiếu định hướng mạnh mẽ trong ăn mặc phù hợp, những tiêu chuẩn của phong cách satorial đã bị bãi bỏ.

Bây giờ, chúng ta sẽ đến với ý nghĩa tiêu đề của cuốn sách này, "Mastering the arts of permanent fashion". Ghép "permanent" với "fashion" có vẻ dẫn tới nhiều mâu thuẫn. Đặc biệt là ngày nay, khi mà "fashion" luôn gắn liền với sự mạo hiểm và thay đổi, ý tưởng về một thứ gì đó "permanent" dường như là khó hiểu.

Ý tưởng của permanent fashion mang 2 tầng ý nghĩa. Ở tầng đầu tiên, nó thể hiện một nghịch lý trong thời trang nam. Sau 3 thập kỷ tận hưởng sự phát triển và định hướng tự do, cùng với sự phớt lờ phong cách satorial của vài thế hệ, số lượng đàn ông mặc đẹp hiện tại ít hơn bất kỳ thời kỳ nào trong lịch sử. Tầng thứ 2, permanent fashion là lười tuyên cáo của cuốn sách này, là nhiệm vụ của người đọc. Cho tất cả những người đang trên con đường tìm kiếm những vẻ đẹp satorial, gắn cuộc hành trình của họ với ý tưởng về permanent fashion sẽ đưa họ tới địch sớm hơn trong đời.

Một số người cảm thấy những quy tắc chỉ làm hạn chế sự thê hiện bản thân. Quan điểm của tôi là chúng chỉ mang lại cơ hội cho những đặc tính cá nhân thật sự. Sự đổi mới luôn luôn bao gồm việc thấu hiểu, thay vì phớt lờ những quy tắc. Sau tất cả, làm sao bạn có thể đẩy cao trình độ, nếu như không có một trình độ được định hình? Cuối cùng thì, những hình thức được xác định sẽ mang đến ý nghĩa cho sự hoàn hảo.

Một lưu ý nhỏ trước khi chúng ta bắt đầu: Những người đàn ông mặc đẹp nhất là những người thể hiện được mức cao nhất hiểu biết của họ về bản thân; với mục đích của chúng ta, là kiến thức vượt trội về cách cư xử và ăn mặc. Phong cách của họ hướng ánh mắt người nhìn vào những đường nét và màu sắc tôn lên nét đẹp cơ thể họ một cách tối ưu nhất. Nội dung hình ảnh của Dressing the Man nhằm chuẩn bị cho người đọc tiến xa hơn, giảng dạy về một nhận thức trình độ cao trong ăn mặc không phải là mục tiêu chính của cuốn sách này.

Trong quá khứ, một người mặc đẹp luôn khiến người khác thoải mái khi nhìn vào, nhưng cũng đồng thời là nguồn cảm hứng. Họ phát triển kiến thức những kiến thức cơ bản, giải phóng hiểu biết của họ về ăn mặc và biến đổi những điều cốt lõi thành thứ nghệ thuật của cá nhân họ, bay bổng hơn và bớt rập khuôn. Như nhà phê bình nghệ thuật Kathleen Campbell đã khởi xướng: "Nghệ thuật hoàn hảo là thứ nghệ thuật che giấu đi nghệ thuật"

Daisaku Ikeda – lãnh đạo thứ ba của Soka Gakkai, một phong trào của đạo Phật Nhật Bản, đã nói rằng: “Cuộc sống của chúng ta bị chi phối bởi những thứ biến đổi. Thử thách là làm sao để tạo ra những giá trị bất biến trong cuộc đời biến động của chính chúng ta”. Dressing the Man: Mastering the Art of Permanent Fashion khao khát thực hiện điều đó, và tính bền vững của thời trang luôn nằm trong tầm với của bất kỳ người nào hứng thú với nó.

 

HẾT PHẦN II

 

– Be classy, be nice –