• Series bài dịch từ bản tiếng Anh chính thức của cuốn Dressing the Man, tác giả Alan Flusser; do Dexterlegant thực hiện với sự giúp sức của các cá nhân: Nhân Nguyễn, Nhân Lê, Nguyên.
  • Sách có độ dày 320 trang, phần nội dung chính dự trù là 9 vạn chữ, sẽ được chia ra Post thành nhiều phần theo sự biên tập của Dexterlegant.
  • Dexterlegant xin phép lược bỏ phần Lời mở đầu của cuốn sách và bắt đầu dịch từ chương đầu tiên
  • Bản dịch hướng tới việc bám sát bản gốc nhất có thể, cả về nội dung, hình thức trình bày và hình ảnh minh họa.
  • Đây là bản dịch không chính thức, không được kiểm duyệt bởi tác giả hay bất kỳ cơ quan/ tổ chức có chuyên môn thẩm quyền nào.
  • Dự án này do cá nhân Dexterlegant triển khai, không có bất kỳ mối liên quan nào tới vấn đề phát hành, quảng cáo, biên soạn của tác giả.

 

CHƯƠNG II: THE POWER OF COLOR

PHẦN I

Một thời gian trước, trong khi đang giúp cô con gái tuổi teen của mình chọn lựa một chiếc váy dạ hội, tôi đã nhớ lại sự khác biệt cơ bản giữa nam giới và nữ giới trong việc lựa chọn trang phục. Kể từ khi mẹ của con bé đã chỉ bảo nó từ những ngày đầu tiên về việc ăn mặc, con bé đã biết đặt từng chiếc váy dưới cằm để ướm thử. Có bao giờ bạn thấy một người đàn ông làm điều tương tự với một chiếc suit jacket hay một chiếc cà vạt dưới cằm của anh ta để đánh giá xem rằng nó hợp hay không chưa? Như các con của tôi từng nói “Không hề!”.

 

Một trong những điều quan trọng nhất – nhưng lại ít được biết tới – trong ăn mặc của nam giới chính là hướng ánh mắt của người nhìn tới khuôn mặt của mình. Hiểu được mối quan hệ giữa những phần cơ thể dễ nhìn thấy và ấn tượng nhất, như khuôn mặt, và những mảnh quần áo xung quanh nó là sự tiên quyết trong ăn mặc đỉnh cao. Oscar Schoeffler – nhà biên tập huyền thoại về thời trang của tạp chí Esquire, từng cảnh báo rằng, “Đừng bao giờ đánh giá thấp sức mạnh của những thứ bạn mặc. Sau tất cả, chỉ có số ít những bộ phận trên cơ thể bạn là nằm ngoài phần cổ áo và tay áo. Phần còn lại mà thế giới nhìn thấy là những gì chúng ta được phủ lên khung người.” Và những màu sắc tạo điểm nhấn cho bức tranh này có thể tạo nên sự khác biệt giữa việc gây ấn tượng nổi bật trong cuộc sống hay là không.

 

Màu sắc ảnh hưởng tới ấn tượng đầu tiên nhiều hơn bất cứ khía cạnh nào của ăn mặc. Nó có thể tạo nên một sự liên kết cảm xúc giữa người mặc và người nhìn. Khi khuôn mặt được đặt giữa những tông màu phù hợp, nó sẽ được nổi bật và thêm phần hoạt lực. Phần lớn phụ nữ sớm nhận ra vai trò của khuôn mặt trong cuộc chơi ăn măc. Những khuôn mặt phụ nữ xinh xắn nhất luôn được che phủ bởi những yếu tố tự nhiên và nghệ thuật. Thật không may, đối với cánh đàn ông, sự khéo léo của phụ nữ như đồ trang điểm không phải là lựa chọn thực tế, phô bày khuôn mặt trần trụi đó ra ngoài.  Mặc dù vậy, đàn ông cần phải biết làm sao để sử dụng màu sắc để có thể tạo điểm nhấn tối ưu cho khuôn mặt trong quá trình giao tiếp.

 

Mặc dù đã có rất nhiều thứ được biết tới như sự ảnh hưởng của một số mảng màu lên nhịp tim hay tần suất hô hấp, rất ít được truyển tải sau này về việc làm sao để đưa những ảnh hưởng của màu sắc lên quần áo cho vẻ ngoài của nam giới. Thời điểm duy nhất trong thế kỷ này mà nam giới có cơ hội tiếp cận tới nguồn thông tin đó là thời hoàng kim của sự trang trọng của nam giới, vào những năm 1920 và 1930. Đây là thời điểm mà những bộ cánh gò bó, buồn tẻ của thời Victorian được thay thế bởi những màu sắc đa dạng từ những bộ lounge suit và sportcoat trẻ trung.

 

Trong khoảng thế kỷ của báo trí thời trang, tạp chí Esquire gây dựng nên tiếng tăm của nó trở thành người nắm quyền về thời trang nam giới Mỹ. Bắt đầu từ mùa Thu năm 1933, bộ phận biên tập của các tạp chí ra sức tìm kiếm những điều cải tiến trong trang phục và dấu hiệu phong cách sẽ được phát triển trở thành những trends ăn mặc đường dài. Nhưng trước khi Esquire bắt đầu công cuộc tìm kiếm diện rộng, thì Apparel Arts, kênh xuất bản chị em của toà báo, đã ra mắt những ấn phẩm về tiềm năng thị trường ăn mặc cho khán giả chuyên nghiệp của họ – ngành công nghiệp thời trang nam giới.

 

Khi một màu sắc mới trở nên quan trọng, Apparel Arts sẽ giới thiệu nó tích cực bằng những danh từ mỹ miều như “sandune” hoặc “brownstone” để lãng mạn hoá hình ảnh của chúng, đồng thời kết nối những màu sắc mới với những màu quen thuộc, ví dụ như Coler Wheel, bao gồm những tông màu mới mẻ nhất cho chất liệu trang phục và nội thất.

 

Đàn ông được hướng dẫn để phối hợp các loại màu sắc như town browns hay rustic green vào với tủ đồ, đồng thời được khuyến khích để thể hiện cá tính thông qua những màu sắc ít phổ biến hơn như màu hồng, màu hoa oải hương, màu vàng. Không hề bất ngờ khi giai đoạn này đã trở thành thời kỳ mà đàn ông ăn mặc đa dạng nhất về màu sắc, và cũng là mặc đẹp nhất trong thế kỷ 20.

 

Thật không may, thế chiến thứ II đã xoá bỏ thời kỳ hưng thịnh của thời trang những năm 30s. Kéo theo sau đó là sự đóng đinh hình ảnh vào những bộ suit flannel xám ở những năm 50s, và những biến động xã hội ở thời điểm 60s đã để lại ý thức ăn mặc của thế hệ sau phụ thuộc hẳn vào tính cá nhân. Đầu những năm 80s, một số ấn phẩm về màu sắc trong thời trang đã có ảnh hưởng nhất định đến cách ăn mặc của nam giới; không may là những công thức này lại quá cơ bản và dễ đoán với việc quy định những sắc xám và xanh tối cho tổng thể.

 

 

 

THE ABC OF A PERSONAL COLOR STRATEGY

Hãy nhớ rằng khuôn mặt là điểm đến mà trang phục của một người cần thu hút sự chú ý của người nhìn, nếu sự đối lập quá nhiều hoặc quá ít xảy ra giữa nó và các màu xung quanh, mắt của người xem sẽ bị phân tâm và tổng thể sẽ bị yếu đi. Bạn phải học 2 kỹ thuật màu sắc nếu muốn đảm bảo có được hoạt ảnh và ảnh hưởng tối ưu trong giao tiếp. Đầu tiên liên quan tới mối quan hệ giữa nước da và mức độ tương phản của trang phục. Màu sắc của bất kỳ bộ quần áo nhất định nào phải thể hiện cùng mức độ tương phản với màu sắc của tông màu da và màu tóc, đó chính là 2 biển chỉ dẫn màu cơ bản của một người.

 

Các đường sọc đậm trên áo phông làm sáng nước da có độ tương phản cao của Tyrone Power (trái) và trong khi đó, mảng màu monotone đơn điệu làm mờ da (phải).

Cách tiếp cận thứ 2 xoay quanh làm nổi bật từng khuôn mặt bằng cách lặp lại một hoặc nhiều sắc tố tự nhiên của nó trong các màu sắc được mặc bên dưới.

Bắt đầu với nguyên tắc đầu tiên – trong khi nước da của đàn ông bao gồm nhiều loại khác nhau, chủ đề này có thể được thu nhỏ thành hai định dạng cơ bản: tương phản cao (contrast) hoặc tương phản thấp (muted). Nếu tóc tối và da sáng, bạn có nước da tương cao. Nếu màu tóc và màu da của bạn tương tự nhau, thì nước da của bạn sẽ được coi là không tương phản.

 

Giờ đây, khi đã chia thành một trong hai màu da nam giới phổ biến, bạn có thể tự hỏi làm thế nào mà sự đa dạng về màu sắc trên khuôn mặt và màu tóc lại có thể được phân chia rõ ràng như vậy chỉ thành 2 loại. Mặc dù số lượng nam giới trong mục tương phản cao nhiều hơn đáng kể so với nhóm người có sự tương phản thấp, nhưng cả 2 loại nước da đều chứa một nhóm quan trọng. Độ tương phản cao hơn chia sẻ tiêu điểm với độ tương phản trung bình, trong khi tương phản thấp lại không có được điều như vậy.

 

Trong nỗ lực đơn giản hoá chủ đề này, cuộc thảo luận của chúng ta sẽ được giới hạn trong phạm vi chênh lệch sáng tối hơn. Vì tương phản đối với ít người đàn ông có nhiều kiến thức hoặc kinh nghiệm trong lĩnh vực này, nên nếu người đọc có thể hiểu sơ qua về bức tranh tương phản thấp, anh ấy sẽ có trong tay một kỹ năng hơn người.

 

Hãy nhìn vào hình minh họa của Tyrone Power với chiếc áo kẻ ngang đen trắng. Khi mà da mặt và tóc của một người đàn ông đã tương phản mạnh mẽ với nhau, thì việc đặt quanh chúng những tông màu tương phản tương đương sẽ tăng thêm vẻ tươi sáng tự nhiên cho khuôn mặt. Ngược lại, chiếc áo polo màu khaki mang tới sự nhạt nhòa về thị giác cho khuôn mặt của Power.

 

 

Ngược lại, Woodly Allen lại có khuôn mặt với độ tương phản thấp: tóc màu vàng cát và nước da sáng, đòi hỏi sự tự nhiên và mềm mại từ những mảng màu ít tương phản. Có thể thấy, những người có màu da và tóc tương phản cao hơn có thể sử dụng được nhiều màu sắc trang phục hơn, nhưng cũng đồng thời chịu rủi ro phạm lỗi cao hơn trong phối màu.

 

Bức ảnh bên dưới thể hiện tầm quan trọng của kỹ năng phối màu. 2 người mẫu trong hình có độ tương phản khuôn mặt khác nhau và mặc chung một bộ đồ. Người mẫu bên trái, với mái tóc sáng màu hơn, chiếc cà vạt sọc đen – trắng trở nên nổi bật và hút ánh nhìn thay vì đưa ánh nhìn đó lên khuôn mặt. Người mẫu bên phải, nhờ có mái tóc tối màu cân bằng với độ tương phản cao mà chiếc cà vạt mang lại, đã thu hút được ánh nhìn đi đúng hướng.

 

 

Cách phối màu thứ hai tập trung vào việc lặp lại một hoặc nhiều màu sắc sẵn có trên khuôn mặt. Nguyên tắc này cũng giống như khi người ta chọn khung tranh / ảnh theo tông màu chủ đạo của bức tranh/ảnh để tôn lên vẻ đẹp của tác phẩm; theo đó, một người với mái tóc vàng sẽ hợp với gọng kính màu vàng, và một người với tóc bạc sẽ hợp hơn với gọng kính bạc.

 

 

 

Một ví dụ điển hình của nguyên tắc này chính là lặp lại màu tóc bằng cà vạt/khăn quàng để tạo ra 2 mảng màu tương xứng, thu hút ánh nhìn vào giữa- nơi có mảng màu khác biệt, cũng chính là khuôn mặt. Ảnh minh họa dưới đây chỉ ra cách mà hoàng tử xứ Wales phối màu theo màu da và tóc.

 

 

Điều cuối cùng để cân nhắc trong chủ đề này là khi những vùng da lớn trên mặt lại có màu đậm hơn (như má) do đặc tính của da hoặc do ánh nắng. Trong trường hợp này, tông màu của trang phục nên được chọn đậm/ mạnh hơn một chút; đây cũng là lí do vì sao thời tiết ấm áp lại là cơ hội cho các peacock thể hiện.

Khi đã ở độ tuổi xế chiều, Fred Astaire (ảnh dưới), đến từ Omaha, vẫn hướng bản thân vào sự hoàn hảo trong phong cách sartorial. Nhận ra rằng tuổi tác đã làm phai đi làn da và màu tóc của mình, Fred sử dụng phương pháp số 1 để lựa chọn những trang phục với tương phản thấp như sơ mi button down xanh nhạt và áo khoác vải tweed để chắc rằng khuôn mặt ông luôn được đặt ở vị trí trung tâm về màu sắc, đồng thời ông sử dụng phương pháp thứ 2 với điểm nhấn là khăn quàng cổ màu lilac và khăn túi ngực.

 

 

HẾT PHẦN I

– Be classy, be nice –