• Series bài dịch từ bản tiếng Anh chính thức của cuốn Dressing the Man, tác giả Alan Flusser; do Dexterlegant thực hiện với sự giúp sức của các cá nhân: Nhân Nguyễn, Nhân Lê.
  • Sách có độ dày 320 trang, phần nội dung chính dự trù là 13 vạn chữ, sẽ được chia ra Post thành nhiều phần theo sự biên tập của Dexterlegant.
  • Dexterlegant xin phép lược bỏ phần Lời mở đầu của cuốn sách và bắt đầu dịch từ chương đầu tiên
  • Bản dịch hướng tới việc bám sát bản gốc nhất có thể, cả về nội dung, hình thức trình bày và hình ảnh minh họa.
  • Đây là bản dịch không chính thức, không được kiểm duyệt bởi tác giả hay bất kỳ cơ quan/ tổ chức có chuyên môn thẩm quyền nào.
  • Dự án này do cá nhân Dexterlegant triển khai, không có bất kỳ mối liên quan nào tới vấn đề phát hành, quảng cáo, biên soạn của tác giả.

 

NECKWEAR

PHẦN II

 

THE REGIMENTAL CANARD:

Người Anh, với những đường kẻ sọc có nguồn gốc từ quân đội, đã tiếp tục sử dụng chúng vào thiết kế cà vạt từ những năm 1920. Trước thời kỳ mà khaki phổ biến toàn cầu, tất cả các trung đoàn người Anh đều có những màu sắc biểu tượng của riêng họ, được thấy đa phần là ở những chiếc áo khoác ngắn của các sĩ quan chỉ huy.

Các trung đoàn Anh đã trang trí cà vạt với họa tiết kẻ sọc bằng màu biểu trưng của đơn vị họ.  Họa tiết trang trí sọc kẻ với màu sắc đặc trưng ở đường chéo, đặc trưng không thể tách rời của đồng phục quân đội Anh. Sau khi trở về đời thường, người Anh vẫn dùng những chiếc cà vạt như thế này, và phổ biến nó.

 

 

Theo suốt lịch sử của cả những tiền lệ trước đó và logic về thẩm mĩ, những chiếc cà vạt kẻ sọc của Anh chạy từ vai bên trái xuống bên phải. Chỉ dẫn này đồng nhất với việc cài khuy áo truyền thống là từ trái-sang-phải (điều này ngăn cản phần trước của áo khoác làm vướng động tác rút kiếm đeo bên trái của người lính). Một trăm năm trước, lúc mà Brook Brothers lần đầu giới thiệu những chiếc cà vạt trung đoàn Anh với nước Mĩ, để tôn trọng nguyên bản, họ đã làm ngược lại (từ trên cao bên phải chạy xuống bên trái). Vì nhìn bề ngoài, những người Anh sở hữu những chiếc cà vạt từ quân đội này, rất dễ bị tự ái khi thấy những chiếc cà vạt đặc trưng của họ trên cổ của người Mĩ. Đây là cách mà F.R.Tripler chơi chữ “American Way” với họa tiết kẻ sọc của họ.

Trong thể thao, nơi mà sự phá cách được ưa chuộng hơn, thì chiếc cà vạt kẻ sọc cổ điển đôi khi không còn được ưa thích nữa. Tuy nhiên, như là kết quả của những nhà thiết kế cà vạt người Ý, nới lỏng những quy ước của người Anh về kích thước của sọc cũng như phối màu, những chiếc cà vạt đã bước vào thời kỳ phục hưng. Nhà thiết kế Luciano Barbera đã có thể chọn bất cứ kiểu cà vạt nào cho outfit này, nhưng ông vẫn chọn kẻ sọc. Khi được nhấn mạnh rằng phải tìm một thứ gì đó thuộc về quân ngũ, bắt nguồn hay khẳng định về thiết kế của nó, chắc chắn rằng ông sẽ chọn nó. Ghi chú hướng dẫn về chi tiết sọc: Phía trên bên trái kéo xuống bên phải.

Một lí do khác về thói quen sử dụng những chiếc cà vạt kẻ sọc bên dưới phần cằm là bởi những đường chéo của nó. Người ăn mặc thông thái hiểu thấu những đường nét về góc cạnh của cơ thể và cách làm chúng trở nên mỏng hơn. Trong trường hợp cà vạt kẻ sọc, những đường xiên làm giảm đi bề rộng một cách kì diệu, làm mềm đi đường nét từ gương mặt, và tôn lên chúng.

 

 

Đây là một cách lí giải khác là vì sao những người đàn ông cao quý trong xã hội có khuynh hướng học cách sử dụng kẻ sọc. Ở bên dưới, diễn viên Raginald Gardiner sử dụng kẻ sọc để nhấn mạnh phần trang phục màu xanh dương, trong khi mỗi phần góc 45 độ của nó đối xứng với chiếc áo hai hàng khuy. Với người vợ Benita ở bên trái, Ronald Coleman thu hút sự chú ý vào chiếc cà vạt kẻ sọc của mình, để cộng hưởng với chiếc sportcoat kẻ ô lớn.

 

 

THE PLAID TIE:

Dù được in màu hay dệt, lụa hay len, những chiếc cà vạt kẻ caro luôn gắn liền với truyền thống của vùng đất Scotland giàu văn hóa bởi những phẩm chất của nó. Chiếc cà vạt caro đầu tiên được làm từ vải wool, bởi sự kết hợp của mô-típ với những chiếc váy Tartan. Tuy nhiên, họa tiết caro Highland chính gốc được làm trở nên sang trọng hơn với phiên bản làm từ lụa để thích hợp với ăn mặc nơi phố thị. Thứ phân biệt caro với những mô-típ cà vạt khác là nó có thiết kế giống như rất nhiều chiếc hộp ghép với nhau, thứ tạo ra những ảo giác về kích thước. Khi đi cùng với kẻ sọc hay các loại họa tiết kẻ ô khác, chiều sâu của những khoảng ô đó tạo ra sự thú vị cũng như những sắc thái duyên dáng. Đây là hình ảnh một quý ông, người đã biết cách sử dụng bộ suit một màu, chiếc dress shirt bằng vải ít trơn hơn. Năng lượng từ màu sắc tương phản cao của chiếc cà vạt cũng nâng đỡ cho hình ảnh của anh ấy (tóc sẫm màu và da trắng).

 

 

SOLID NECKWEAR:

Phần tiếp theo này có thể trông khá là đối nghịch, tuy nhiên càng có nhiều sự đa dạng về taste của đàn ông với quần áo, thì càng có nhiều chiếc cà vạt một màu mà anh ấy muốn sở hữu. Như những bộ tuxedo, vốn chỉ dựa vào 2 màu sắc, những chiếc cà vạt đơn sắc trở nên gần như không thể thiếu nếu một ai đó ưa thích sự rành mạch của những bộ trang phục 2 tone màu.) George Frasier, chuyên gia về thời trang của Esquire, có một tình yêu cá nhân đặc biệt với những chiếc cà vạt đen, vốn có nguồn gốc từ ông chủ của Barney’s New York, Fred Pressman. Bạn có thể viết được cả cuốn sách từ những hình ảnh mà Pressman phô ra những bộ trang phục màu xám từ flannel, hay màu tan từ gabardine mà đi cùng với chiếc cà vạt đen, thắt four-in-hand kèm với Pin để kết nối với sơ mi xanh dương. Người làm lâu năm trong ngành giải trí, Bobby Short sở hữu cả bộ sưu tập cà vạt xanh dương và đen, bằng lụa dệt chắc chắn còn nhiều hơn cả Porter, Gershwin và Ellington cộng lại.

Lý do thứ hai để bổ sung cho tủ đồ những chiếc cà vạt một màu là những đặc quyền của họa tiết. Cũng như sự leo thang của họa tiết trong vai trò ở thế giới thời trang nam, cà vạt một màu cũng trở thành người bạn tốt nhất. Ai đó từng đùa rằng nam giới Anh quốc phát triển trình độ ăn mặc của mình bằng cách đưa vào trang phục nhiều màu sắc nhất có thể mà không khiến hình ảnh tổng quan đổ vỡ. Những chiếc cà vạt trơn màu thực tế lại là lựa chọn hợp lý cho phần cổ hơn là việc nhồi nhét vào đó quá nhiều màu sắc.

 

– HẾT PHẦN II