• Series bài dịch từ bản tiếng Anh chính thức của cuốn Dressing the Man, tác giả Alan Flusser; do Dexterlegant thực hiện với sự giúp sức của các cá nhân: Nhân Nguyễn, Nhân Lê.
  • Sách có độ dày 320 trang, phần nội dung chính dự trù là 13 vạn chữ, sẽ được chia ra Post thành nhiều phần theo sự biên tập của Dexterlegant.
  • Dexterlegant xin phép lược bỏ phần Lời mở đầu của cuốn sách và bắt đầu dịch từ chương đầu tiên
  • Bản dịch hướng tới việc bám sát bản gốc nhất có thể, cả về nội dung, hình thức trình bày và hình ảnh minh họa.
  • Đây là bản dịch không chính thức, không được kiểm duyệt bởi tác giả hay bất kỳ cơ quan/ tổ chức có chuyên môn thẩm quyền nào.
  • Dự án này do cá nhân Dexterlegant triển khai, không có bất kỳ mối liên quan nào tới vấn đề phát hành, quảng cáo, biên soạn của tác giả.

 

ODD JACKETS, TROUSERS & WAISTCOATS

PHẦN IV

 

  CLASSIC ODD TROUSER MODELS

Đa phần quần Casual đều được làm với đỉa quần. Trong khi kích thước của waistband và đỉa quần đều không nằm ngoài thời trang, độ rộng của thắt lưng cố định là từ 11/4 tới 11/2 inches. Bên cạnh các kiểu quần không/ có ly truyền thống, một số loại quần Casual ít được biết đến tiếp tục phát triển hơn. Dù ôm hay Full- cut, thì waistband vẫn duy trì tính thời trang của nó và các giá trị nội hàm, kể từ khi nó trở lại vào thời hoàng kim trước chiến tranh.

 

THE DAKS SLACKS:

Daks waistband được phát minh vào năm 1932 bởi Alec Simpson, con út của Simeon Simpson, sáng lập của English House of Simpson. Là một tay chơi Golf, Alec chia sẻ về cảm giác khó chịu khi chơi Golf khi bị cản trở bởi dây đeo quần và chiếc áo của mình. Ông quyết định rằng phải có cách gì đó để làm nên chiếc quần thể thao và đi tới ý tưởng về “chiếc quần Casual thoải mái trong mọi hoạt động”, chiếc quần không thắt lưng đầu tiên. Với sự tưởng nhớ về người cha, ông đặt tên cho thiết kế này là Daks, kết hợp giữa “Dad” và “slack”

 

 

Đầu tiên, đệm cao su được gắn và waistband để giữ áo trong quần. Sau đó, ở bên còn lại của thắt lưng, phần tự điều chỉnh với lỗ khuy được thiết kế để kết nối với phần dải chun được chạy giấu ở mặt trong của waistband vòng qua thắt lưng. Điều này cho phép phần điều chỉnh hai bên được kéo tới trước và cài lại bởi một trong hai khuy bên, tạo độ căng cho phần waistband.

Dù là một sản phẩm thể thao, thiết kế Daks rất đáng giá với các nhà xưởng, và sau này nó chỉ được thấy ở các sản phẩm làm sẵn hay may đo giá cao. Đây là một trong những quảng cáo sớm nhất cho phong cách cổ điển, không thắt lưng của nhà Simpson.

 

THE SELF- BELT:

Giữa hai cuộc chiến tranh, có một vấn đề về là làm sao để có một bộ đồ thể thao với trọng lượng nhẹ dùng khi đi biển. Những chiếc thắt lưng liền quần làm mất đi sự khó chịu khi phải mang theo một chiếc thắt lưng riêng lẻ. Quần short mặc cùng áo sặc sỡ trở thành hình ảnh của những kỳ nghỉ hè, kể từ cuối những năm 20, sự tiện lợi của những chiếc quần có sẵn thắt lưng, dễ dàng để cài nhanh chóng được chấp nhận, len lỏi vào các môn thể thao và cả quần Âu. Với phần nửa thắt lưng riêng hoặc được gắn vào, thường là bởi một mảnh đồng hoặc D- ring, như mẫu quần mà Errol Flynn đang mặc.

 

 

THE HOLLYWOOD WAISTBAND:

Sự nổi tiếng của quần thắt lưng cao, trong những năm 50 đã thúc đẩy sự trở lại cũng những thiết kế từ West Coast từ những năm 30. Thuật ngữ “Hollywood” với cạp quần cao hơn, liền từ trước ra sau, đỉa quần vừa đủ, nằm dưới phần trên cùng của thắt lưng. Các thiết kế không có waistband của Hollywood và đỉa quần đặt thấp buộc phải có thắt lưng nhỏ hơn, vốn được tin rằng sẽ phù hợp hơn với phần thắt lưng tự nhiên. Một ví dụ của hình tượng này, là một đại diện cho phong cách – Leslie Howard, với thắt lưng có khóa bên hông, tạo nên sự thoải mái những cũng rất hợp thời trang.

 

 

THE ODD WAISTCOAT

Khác với việc bắt gặp một odd “post man” làm việc uể oải tại trung tâm thương mại của London, có ai đó đã đưa một chiếc odd waistcoat bán tại bờ biển của Mĩ trở lại khi mà Brooks, Chipp, J. Press, và Triplers vẫn chìm đắm trong hào quang của Madison Avenue. Odd waistcoat là một trong những con át chủ bài nhiều màu sắc của WASP.

Một khảo sát với những người Mĩ truyền thống bắt đầu từ 1928, thời đại của Gatsby, với linen waistcoat trong các sắc thái Pastel màu Tan, Xám và xanh dương. Kết quả trên tạp chí Men’s Wear chỉ ra rằng “linen odd” vest là món đồ quan trọng trong tủ đồ của những người đàn ông bắt nhịp với thời trang. Giữa những năm 30, ăn mặc thường ngày ở đồng quê đem đến một chiếc waistcoat mới: tattersall vest một hàng khuy, màu sắc hài hòa với áo khoác đi kèm. Những người trẻ, vốn không bao giờ mặc waistcoat trước đó được cảnh báo là phải làm giảm sự sặc sỡ đi. “For instance”, được viết bởi biên tập của Men’s Wear, “họa tiết kẻ ô Tattersall, thường làm trên mẫu một hàng khuy, trong khi vải trơn hơn, nhiều màu sắc, được làm với áo hai hàng khuy”.

Những năm 40, một outfit bán thể thao không chỉ có thể được chấp nhận với ăn mặc thông thường, mà còn- theo Esquire-  “ đủ thích hợp để chơi thể thao”. Chi tiết mới trang phục bán thể thao phát triển hơn với trang phục săn bắn và đua xe đạp. Không may, dù được tài trợ, những chiếc waistcoat vẫn đối mặt với sự suy tàn. Suốt cuộc chiến, nó bị giáng một đòn không thể vượt qua khi mà War Production Board quyết định rằng những bộ suit hai hàng khuy sẽ không được làm cùng vest. Khi mà odd vest với họa tiết kẻ ô, vải trơn, tone màu sáng hay họa tiết hình khối tiếp tục được dùng ở Ivy Langue cho đến những năm 60, cuộc cách mạng của các Peacock, chỉ ra những bộ suit được dựng hình sẵn, và tiêu diệt chúng. Đầu những năm 70, các peacock đã tạo được khoảng cách giữa họ và các “post boy”.

Dù công sở ngày nay đã có những chiếc Sport jacket để Dress- down, nếu Four- in- hand không được sử dụng, thì những chiếc áo vest lẻ không có vẻ như là sẽ tạo được một ấn tượng ở phần trước. Đây là một sự xấu hổ, khi mà những chiếc odd weskit linh hoạt kia luôn phụ thuộc  vào một chút phá cách trong tủ đồ của bạn.

 

HẾT PHẦN IV