• Series bài dịch từ bản tiếng Anh chính thức của cuốn Dressing the Man, tác giả Alan Flusser; do Dexterlegant thực hiện với sự giúp sức của các cá nhân: Nhân Nguyễn, Nhân Lê.
  • Sách có độ dày 320 trang, phần nội dung chính dự trù là 13 vạn chữ, sẽ được chia ra Post thành nhiều phần theo sự biên tập của Dexterlegant.
  • Dexterlegant xin phép lược bỏ phần Lời mở đầu của cuốn sách và bắt đầu dịch từ chương đầu tiên
  • Bản dịch hướng tới việc bám sát bản gốc nhất có thể, cả về nội dung, hình thức trình bày và hình ảnh minh họa.
  • Đây là bản dịch không chính thức, không được kiểm duyệt bởi tác giả hay bất kỳ cơ quan/ tổ chức có chuyên môn thẩm quyền nào.
  • Dự án này do cá nhân Dexterlegant triển khai, không có bất kỳ mối liên quan nào tới vấn đề phát hành, quảng cáo, biên soạn của tác giả.

 

THE SUIT

PHẦN I

 

Nếu một người đàn ông tranh cử tổng thống, phỏng vấn xin việc, hoặc dùng bữa ở một nhà hàng trang trọng, khả năng cao là anh ta sẽ mặc suit. Jacket và quần mặc thành bộ vẫn luôn là đồng phục đại diện cho quyền lực công chức, biểu hiện sự lễ độ, phong thái ngoại giao, và sự tự kiểm soát hình ảnh bản thân. Các bộ suits có vẻ ưu việt riêng của chúng.

Dù rằng ngữ nghĩa của suits đã có sự thay đổi, nền tảng cơ bản của nó vẫn vậy. Trong vòng một trăm năm, trải quả hàng loạt giai đoạn biến động của xã hội, sự trường tồn của suit đã tự là minh chứng cho kết cấu độc đáo của loại trang phục này. Chưa ai có thể tạo ra một bộ đồ khác mà có thể làm một lớp bao bọc vừa hoàn chỉnh vừa linh hoạt cho cơ thể nam giới như vậy. Cho dù cộng đồng thời trang luôn thích thay đổi theo từng mùa để “hiện đại hóa”, việc này cũng không thể lay động được vị trí độc tôn của bộ suit trong hàng loạt các loại lễ phục của nam giới.

Cuộc Cách mạng Peacock là một sự thúc đẩy cho việc chuyển đổi nền tảng phong cách nam giới từ gu cá nhân của thợ may sang thời trang “hợp mốt” được truyền cảm hứng bởi các nhà thiết kế. Sự nổi tiếng của bộ suit Pierre Cardin “đồng hồ cát” vào những năm 70s, theo sau đó là các bộ suits Hugo Boss vai ngang quyền lực và những chiếc jacket low-gorge (gorge: Phần giao giữa ve và cổ áo jacket; low-gorge nghĩa là phần này trên áo được đặt thấp hơn) của Giorgio Armani vào thập niên tám mươi, đã biến đổi bộ business suit từ một kẻ tuân thủ tiêu chuẩn thành một phương tiện phổ biến và hợp thời trang.

Vào giữa những năm 80s, bộ suit trở thành mặt hàng hút khách bậc nhất của những người kinh doanh thời trang đương thời, với doanh số lấn át cả nhãn hàng nội địa và cả thương hiệu riêng của các hãng bán lẻ. Dù rằng trước đó nam giới thường chỉ trung thành với một kiểu dáng suit và một phong cách, vào cuối thập niên tám mươi sôi động, những cá thể tiêu biểu mới nổi của thời trang bắt đầu thử nghiệm với hình thái của quần áo như phụ nữ với makeup vậy, không nghĩ tới gì khác ngoài việc mua ba bộ suits mới trong một mùa, với ba kiểu cut khác nhau, từ ba nhà thiết kế.

Hầu như trong cả thế kỷ qua, bộ suit gần như là trang phục chính để mặc khi đi làm. Tuy nhiên, sự tự do nơi làm việc thời gian gần đây khuyến khích kiểu quần áo thoải mái và trẻ trung hơn. Do việc ăn mặc nơi công sở không còn bị ràng buộc bởi các quy tắc xã hội nghiêm ngặt, văn phòng giờ đây bao gồm cả âu phục và thường phục.

Bất chấp sự tụt giảm doanh số bán hàng và thói quen mặc suit tệ hại thời nay, năm năm gần đây của thế kỷ XX ghi nhận lượng bán ra của những bộ suit từ $1500 trở lên cao hơn quãng thời gian 30 năm trước đó cộng lại. Một người tinh tế trong chuyện ăn mặc hiểu được mặc dù quy luật nghiêm ngặt nơi công sở không còn như trước, bộ suit vẫn trường tồn. Khi mà bộ suit cổ điển giờ đây chủ yếu chỉ phục vụ cho nhu cầu ăn mặc trong dịp quan trọng, nam giới muốn những món âu phục của bản thân cũng là lá bùa thành công như xe hơi, rượu, đồng hồ, và khi họ cần “hỏa lực”, họ thường tìm tới “vũ khí” tốt nhất có thể.

Một nguyên do nữa cho việc tăng chi tiêu vào suit, là sự trưởng thành trong gu ăn mặc của đàn ông đương đại. Các anh chàng phong cách đã dần thoát ly khỏi những bộ suit thời trang chỉ mặc được hai năm và nhắm tới trang phục có giá trị và tuổi thọ dài lâu. Các chân lý cũ như thủ công và nghệ nhân đang dần quay trở lại trong ngôn ngữ thời trang hiện đại.

Và may đo bespoke không hề chết đi, vẫn được coi là thước đo tiêu chuẩn cho mức cao cấp nhất của đồ may sẵn, để rồi những người bán hàng dựa vào mà đảm bảo rằng, trong trường hợp không soi xét kỹ lưỡng, các món đồ treo trong cửa tiệm của họ chẳng khác gì đồ may đo.

Thay vì bị giảm giá trị, suit may đo nay đã trở lại và khá được chú trọng. Ngay cả đế chế Gucci-Prada cũng chỉ khắc họa những bộ suit hai mảnh tân thời của họ là sự bổ sung chứ không phải chuyên quyền, một loại trang phục có thể biến đổi những gã hiệp sĩ thành thị từ diện mạo ban ngày thành ban đêm; từ ngoại ô vào nội thành. Bất chấp sự lên ngôi của thường phục trong giới công sở thượng lưu, khi sự thành công ở trong tầm tay, không một bộ đồ nào có thể chuyển tải một thông điệp sâu sắc hơn bộ suit may đo chỉn chu.

THE SILHOUETTE

Bốn mươi năm trước, ta có thể phân biệt rõ ràng ba hoặc bốn trường phái cho hình thái của bộ suit. Ở Anh, người ta gọi là “bespoke”. Ở Ý, từ đó là sartoria. Ở Pháp, nó được gọi là tailleur. Chúng ta có thể nhận biết được dáng suit qua truyền thống may đo của mỗi quốc gia, rồi sàng lọc thành nhiều phong cách suit bán sẵn khác nhau, một vài kiểu thậm chí miễn nhiễm với quá trình thay đổi liên tục của thời trang.

Nguyên mẫu đầu tiên có thể kể đến cái gọi là “kiểu Anh”, bắt nguồn từ trang phục Hoàng gia, những người mà trước giờ luôn mặc đồ may từ một hoặc một vài nhà may Savile Row huyền thoại. Phong cách Anh được tạo hình theo quân phục, với các đặc trưng giống như chiếc hacking jacket dáng dài, phom đồng hồ cát. Bám sát vào thân hình với điểm nhấn tinh tế ở ngực và phần vai êm, những đặc điểm như đường eo nổi bật, vạt áo hơi mở, hai đường xẻ tà sâu, tay áo ôm gọn và đường nét của quần âu tạo cho người đàn ông phong thái vững chắc, có nét vương giả, đặc biệt nếu anh ta có vóc dáng mảnh khảnh kiểu quý tộc.

Kiểu dáng chung thứ hai của bộ suit được Brooks Brothers ở Mỹ phổ biến rộng rãi, mà về sau được gọi là kiểu “Ivy League” vào những năm 1950s. Các đặc điểm nhận dạng là áo khoác ba cúc, một hàng khuy với vai tự nhiên, vạt trước không chiết, túi nắp, xẻ tà đơn, và quần trơn không ly, “Sack suit số một” của Brooks là bộ suit được sản xuất hàng loạt đầu tiên, hình dáng không khác biệt và không quyến rũ, tạo cho người mặc vẻ bình thường theo một cách mềm mại, có tính toán. Những suit makers ở Mỹ là những người đầu tiên nhận ra rằng một trang phục càng đơn giản, người ta càng cảm thấy thoải mái hơn khi mặc.

Biểu hiện đặc trưng thứ ba của bộ suit là kiểu Continental hay còn gọi là phong cách Châu Âu. Phong cách châu Âu xoay quanh thời trang Ý và ít phổ biến hơn là Pháp. Trái ngược với bộ sack suit phom suông của Mỹ, kiểu cắt của châu Âu phụ thuộc vào sự nghiêm khắc về đường nét để thể hiện phong cách. Được khắc họa với phần vai vuông cao và chiều dài áo ngắn, chiếc jacket cần có phần ống tay áo cao và nhỏ để tạo cảm giác phần ngực áo dài hơn, bù vào chiều dài áo. Áo khoác ôm ở ngực và hông, thường là vạt đơn, hai cúc, ve áo chữ K cao và túi mỏng không nắp, không xẻ tà. Quần âu có cạp thấp và ôm hơn. Phần thân trên cân đối của người châu Âu và quân ôm vừa vặn làm cho nhiều chàng trai trẻ trông như biểu tượng của sự nam tính vậy.

Kiểu suit cuối cùng hay kiểu thứ tư, là sự kết hợp của phong cách Anh và Mỹ, Brooks Brothers và Savile Row. Mong mỏi một sản phẩm thiết yếu cho những kẻ sành sỏi, từ Fred Astaire tới Gary Grant, phiên bản nâng cấp của bộ suit Mỹ kết hợp sự thanh lịch đặc trưng của Savile Row với vẻ thoải mái tinh tế của bộ sack suit. Được giới thiệu tới các quý ông Gotham vào giữa những năm 60s bởi cửa hàng Paul Stuart trên đại lộ Madison, sau đấy bộ suit hai cúc với khuôn dáng đặc biệt này được giới thiệu tới công chúng qua các thiết kế của Ralph Lauren.

Với ống tay áo may cao và phần ngực nhỏ hơn cùng hai đường chiết trước để tạo phần eo rõ ràng hơn, ve áo uốn cong của bộ suit được nâng cấp này mở phần ngực áo hơn để khoe ra đường nét cơ thể người đàn ông đồng thời làm nổi bật dáng hình chữ V của thân trên. Dù xẻ tà giữa kiểu Mỹ hay xẻ tà hai bên kiểu Anh, bộ suit lai tạo với phần vai mềm mại này đã là chủ đạo của thời trang Mỹ truyền thống trong vài thập kỷ, mang làn gió mới tới với phong cách Ivy League của Bờ Đông.

Suốt nhiều năm, những khái niệm như “Anh” hay “Mỹ” dường như bị cố định, minh họa cho một phong cách và quy chuẩn nhất định với cả châu lục và các nền văn hóa khác nhau. Khi khuynh hướng ăn mặc của một người được miêu tả là “kiểu Ý”, điều này thường có nghĩa rằng anh chàng đó thích mặc đồ ôm vừa vặn, có phong cách đặc trưng. Ngày nay những điều ám chỉ đó hoàn toàn mất đi ý nghĩa thực tế. Ba mươi năm qua thời trang thế giới đã vượt qua ranh giới và thị hiếu quốc gia tới mức độ cởi bỏ hoàn toàn những đặc trưng từ nơi xuất xứ của các hình thái suit tiêu chuẩn.

Ngày nay, Le Style Anglais nổi tiếng ở nước ngoài hơn là ở Anh, nơi mà chỉ có một ông chủ đất già cỗi hoặc khách hàng trung thành của một nhà may Savile Row nào đó là còn tuân theo mấy điều lệ cũ của Bond Street. Nếu có người muốn tìm một bộ sack suit chân chính ở Manhattan thì sẽ rất khó khăn. Âu phục kiểu cũ, ôm sát và đệm vai ngang dày, giờ đây đã phát triển thành kiểu suit ba cúc vai xuôi, xẻ tà hai bên, tạo hình mềm mại, kiểu Anglo-American (Anh Mỹ) hơn là kiểu Continental, thiên về Metropolitan hơn là Milanese.

Vì thế, thay vì bị xao nhãng bởi xu hướng thời trang mới nhất, nếu có thể áp dụng một hình thái trang phục cơ bản ngay từ đầu, việc đạt được một dáng suit đúng tinh thần “permanent” sẽ đơn giản hơn nhiều. Thực tế thì nhận định này không khó tin như nhiều người tưởng. Nhờ vào những sự giao thoa độc đáo, lần đầu tiền kể từ thời hoàng kim của menswear, các suit makers hiện đại đều chung ý kiến về đặc điểm đầy tính tuyên ngôn nhưng cũng biến hóa nhất của suit jacket, phần vai áo. Trong thời gian đầu thế kỷ XXI, các nhà thiết kế thời trang hàng đầu của Ý, các nhà may Savile Row của Anh, các chuỗi bán lẻ của Pháp, và những thương hiệu may mặc cổ điển hàng đầu của Mỹ đều đồng ý rằng điều kiện thiết yếu của vẻ tinh tế trong đồ tailoring là một bộ suit tôn lên phần đầu của người mặc với vai áo dốc nhẹ, tự nhiên nhưng độc đáo.

Điều này không có nghĩa rằng cut và chi tiết của các bộ suits đã trở nên đồng nhất tới mức độ khó phân biệt. Tuy nhiên, có thể khẳng định là, hiếm khi mà sự khác biệt thật sự giữa những bộ suit đẳng cấp nhất hiện nay bộc lộ quá nổi bật , hay nói cách khác là ẩn mình một cách tinh tế hơn. Và nếu ta chỉ ra một sự thật rằng hầu hết đường nét vai của các bộ suit chất lượng tốt bây giờ có nhiều điểm chung hơn so với trước đây, vậy thì, khi một anh chàng thích một kiểu dáng suit hơi “hộp” hoặc hơi ôm, cut đầy đặn hay ôm gọn, thì câu chuyện lại là về sự biểu hiện của gu thẩm mỹ cá nhân hơn là tuân thủ quy tắc.

Vì vậy, cứ cho rằng tỉ lệ của bộ suit và cơ thể người mặc phải tương thích và kiểu “hình thái quốc tế” này là cố định, chúng ta vẫn hoàn toàn tự do lựa chọn các kiểu mẫu, chi tiết, và loại vải phù hợp với permanent fashion, ít nhất là trong tương lai gần.

 

– Hết phần I