• Series bài dịch từ bản tiếng Anh chính thức của cuốn Dressing the Man, tác giả Alan Flusser; do Dexterlegant thực hiện với sự giúp sức của các cá nhân: Nhân Nguyễn, Nhân Lê.
  • Sách có độ dày 320 trang, phần nội dung chính dự trù là 13 vạn chữ, sẽ được chia ra Post thành nhiều phần theo sự biên tập của Dexterlegant.
  • Dexterlegant xin phép lược bỏ phần Lời mở đầu của cuốn sách và bắt đầu dịch từ chương đầu tiên
  • Bản dịch hướng tới việc bám sát bản gốc nhất có thể, cả về nội dung, hình thức trình bày và hình ảnh minh họa.
  • Đây là bản dịch không chính thức, không được kiểm duyệt bởi tác giả hay bất kỳ cơ quan/ tổ chức có chuyên môn thẩm quyền nào.
  • Dự án này do cá nhân Dexterlegant triển khai, không có bất kỳ mối liên quan nào tới vấn đề phát hành, quảng cáo, biên soạn của tác giả.

 

THE SUIT

PHẦN III

 

JACKET VENT

            Đường xẻ là một di sản từ quân đội. khi đàn ông đi khắp nơi trên lưng ngựa, chiếc áo của họ cũng được thiết kế cho sự thoải mái ở trên yên cương.  Một đường xẻ ở phía sau cho phép phần đuôi của nó trượt tự nhiên về hai bên, một lý do thực tế tại sao ngày nay một đường xe đơn dài vẫn tồn tại trên những chiếc áo khoác cưỡi ngựa. Nếu áo đủ dài để che được hết phần mông, đường xẻ sau giúp túi quần trở nên có tác dụng. Có ba lựa chọn cho đường xẻ của áo: không xẻ, xẻ một đường ở giữa và xẻ hai đường hai bên.

 

THE VENTLESS BACK: 

Cuối những năm 70, áo khoác không xẻ là hiếm thấy. 10 năm tiếp theo, thiết kế ăn mặc công sở cho nam giới đưa phần lưng phẳng vào dòng chính của thời trang, củng cố nó như là mẫu phổ biến nhất của áo khoác, trạng thái duy trì tới ngày nay. Dù thường được đưa vào những bộ suit Ý fit sát vào những năm 60, suit không xẻ vẫn là một huân chương vinh dự cũng như đường xẻ bên của Anh. Giữa hai cuộc chiến tranh, khi các nhà may Anh đề ra các quy tắc, đa phần những bộ suit may đo và dinner jacket được làm mà không có xẻ.

Áo không xẻ ôm lấy phần hông, tạo thêm sự gọn gàng, ngăn nắp và lịch sự. Trong khi chỉ yêu cầu đơn giản về đường nét và vóc dáng, chức năng của nó rất kém. Để người mặc cho tay được vào túi quần hay ngồi xuống, phần lưng không xẻ sẽ phải đùn lên, tạo ra nếp nhăn.

 

THE CENTER VENT: 

Một đường xẻ giữa, là kiểu ưa chuộng của người Mĩ, đã tăng trưởng nổi bật về độ phổ biển vào thời điểm mà áo quần may sẵn lần đầu xuất hiện trên màn ảnh. Với sự phát triển của kiểu áo khoác với natural shoulders của người Mĩ trong những năm 50, áo có đường xẻ giữa trở thành một phần đặc trưng của Ivy League. Thiết kế ban đầu cho việc cưỡi ngựa, đường xẻ giữa không hề giảm đi sự phong cách dù khi nó không ở trên yên cương.

 

 

            Nếu cho tay vào tìm túi quần hay túi áo, áo xẻ sau sẽ có sự kéo lên nhẹ như một cánh cửa nhà để xe, lộ ra những thứ nó che giấu. đường xẻ giữa thu hút sự chú ý ở phía sau của một người đàn ông, và nếu được cắt đủ cao, đường xẻ cổ vũ cho đường viền của sơ mi tham gia vào tổng thể.

 

 

Là loại đường xẻ có giá thấp nhất trong sản xuất, đến nay vẫn là loại xẻ thông dụng nhất, những đường xẻ giữa là minh chứng cho một bộ suit may sẵn. Những người am hiểu thời trang Ý không bao giờ chịu thua nó, đa phần các nhà may ở Savile Row tránh xa nó. Tạo ra chỉ một chút chức năng hơn là không xẻ, đường xẻ giữa chỉ được áp dụng để che giấu phần hông nhô lên tốt hơn là không xẻ và xẻ bên.

 

THE SIDE VENT: 

Xẻ bên tối ưu về chức năng và dáng vóc cho người mặc, không chỉ là sự linh hoạt. Đàn ông nên thử một chiếc áo khoác với đường xẻ đôi và sau đó quyết định rằng có thích đường xẻ này không, vì nó có thể dễ dàng chuyển thành không xẻ bằng cách nối kín hai đường xẻ lại. Về mặt chức năng của nó, khi người mặc ngồi xuống, phần xẻ sau sẽ làm phần lưng dưới đi ra phía sau, tạo ra ít nếp nhăn nhất. khi cho tay vào túi quần, phần xẻ bên phía sau cho phép làm điều đó một cách trơn tru mà vẫn che được phần mông. Dù là một hay hai hàng khuy, áo khoác xẻ bên có thể được mặc khi cài khuy mà vẫn tạo ra được một lối vào phần túi áo hay túi quần mà không làm rối những đường nét phía sau của áo.

 

 

Lấy cảm hứng từ ưu thế áp đảo đã nhắc bên trên, những đường xẻ đôi ít khi được làm với cách làm lưng ba phần. (three back treatment). Không may, bởi vì áo khoác xẻ đôi yêu cầu thiết kế tốt hơn và tay nghề để fit tốt, những ý kiến tiêu cực của cộng đồng được nuôi lớn bởi những ví dụ quá phổ biến về những đường xẻ bên nằm bên dưới phía sau mà bị văng ra hay tách ra khỏi phần mông người mặc. Đi theo những thiếu sót của xã hội, những đường xẻ bên chưa bao giờ được đón nhận một cách nhiệt tình bởi nhà sản xuất hay người bán lẻ. Xẻ bên là mẫu lưng áo đắt nhất cho các xưởng sản xuất và cũng tương tự với đa phần những điều kiện liên quan về mức giá cho người bán.

Tuy nhiên, khi được fit vừa vặn, nằm phẳng và thẳng góc với xung quanh, áo xẻ bên tạo ra sự bảo vệ phía sau cho ăn mặc thực tế và phong cách cá nhân. Khi phần sau được thiết kế để chia ra một cách đơn giản, sự thoải mái của nó không giới hạn cho phần sau của nam giới. Xẻ bên hướng cái nhìn của người đối diện sang hai bên, nâng cao hơn cho người mặc với một ảo giác về chiều cao tốt hơn. Khi bước đi, sự tinh tế của những chuyển động giữa đường xẻ sau phía trên và phần đùi phía dưới tạo ra sự lưu loát và duyên dáng cho hình thái nam giới.

 

 

Độ cao của đường xẻ là một chi tiết phản chiều sở thích cá nhân người mặc. Thông thường, chiều dài của nó không vượt quá phần trên của túi hông hay nằm dưới cạnh phía dưới của nó. Nếu túi là không nắp, chiều dài đường xẻ nên lấy gợi ý từ độ cao của túi, dù có thể nằm thấp hơn. Đường xẻ bên nằm trên túi nắp có xu hướng di chuyển ra ngoài, tạo nên sự tập trung cho chính nó bởi phần vạt bị lộ ra và đóng vào như một cái cửa bị bung chốt.

 

DRESSING THE JACKET SLEEVES:

Khuy trên tay áo khoác đã trải qua những xu hướng thay đổi khác nhau. Nhiều thế kỉ trước, họ sử dụng cuff cho tay áo khoác để người mặc không cần cài khuy ở tay áo, cho phép họ cuộn phần cuff lên mà không làm nhăn chúng. Những khách hàng đi trước Frederick the Great yêu cầu phải có khuy trên tay áo cho quân phục để cổ vũ họ dùng sơ mi có cuff thay vì dùng tay áo khoác như khăn lau.

Logic của khuy tay áo là sự vận hành của lịch sử. Không ai biết chắc tại sao mà bốn nút lại được coi là Sartorial, nhưng đây là cách mà các nhà may bậc thầy ở London áp dụng cho tay áo kể từ xưa. Và bởi họ cố vấn cho ăn mặc dân sự nơi đồng quê, Savile Row của Anh duy trì “đôi tay văn hóa” cho thời trang.

Bất kể số lượng của chúng hay chức năng, khuy trên tay áo nên nằm gần nhau, những cạnh của chúng chạm vào nhau với nút cuối cùng kết thúc không vượt quá 1,9 cm phía trên điểm dưới cùng của tay áo.

 

THE SUIT WAISTCOAT

Tất cả những chiếc áo gilet may đo của nam giới đều xuất thân từ mẫu nguyên gốc là những chiếc áo Gile của những người đưa thư ở thế kỷ 19, nước Anh. Mặc bởi những người đưa thư hay các huấn luyện viên, người phải cưỡi ngựa hướng dẫn cho người khác trên một đôi ngựa nối với nhau bởi dây đai, loại trang phục này tạo ra sự ấm áp, thường được làm từ vải len, ở trước và sau, được cắt cao ở nách.

Áo gile là một kỹ thuật thách thức nhất cho việc đạt được những yêu cầu. Như là đỉnh cao của tay nghề nhà may, nó yêu cầu phải nằm phẳng như một chiếc bánh kếp trên bề mặt như một đường viền, càng duy trì “touch fit” càng tốt, và không có chỗ nào bị chật. Áo gile tồn tại được vì nó thêm vào cho những chiếc áo một hàng khuy, giữ cà vạt đúng chỗ, giữ cho sơ mi gọn gàng và ngăn nắp, tạo nên sự nổi bật cho phần tay áo sơ mi. Nó không chỉ ấm và được thiết kế tiện lợi, kể từ khi người mặc mang theo đồng hồ vàng trong một chiếc túi áo Gile và một chiếc túi đồng hồ nhỏ hơn, cùng một sợi xích kéo dài ngang qua phần trước để nối chúng với nhau.

 

 

Trước thế chiến II, đa phần áo một hàng khuy hơn áo hai hàng khuy ở chỗ nó mặc được cùng áo Gile. Tuy nhiên, vòng quay lịch sự lại chống lại nó. Sự nóng lên và xuất hiện của thời trang nhiệt đới cuối thế kỷ 20 cố vũ cho sự tinh giảm các lớp trang phục. Áo hai hàng khuy là món đầu tiên bị chia ra với chiếc áo Gile, và phần vải dành cho thời chiến phân phối cho áo Gile đã giáng đòn chí mạng. Những năm 60, suit ba mảnh bắt đầu trở lại một cách chậm rãi, nhưng việc bao gồm những chiếc áo Gile gia tăng mức giá bán lẻ cho cả bộ, giảm đi tính khả thi về thương mại của nó. Ngày nay, suit có áo Gile là sự hồi tưởng với những gì trong quá khứ và chỉ phù hợp với những bộ đồ may đo.

Điều kiện của những chiếc gile tách rời có thể được biến đổi với đa phần những bộ suit 2 mảnh, được thể hiện ở đây bởi chiếc áo gile hai hàng khuy bằng linen trắng của Captain Eden với ve áo chữ K nhỏ. Theo sau suit, mẫu áo một hàng khuy, ve nhọn (hình dưới) mang đến điều kiện lí tưởng để trang trí phần thắt lưng tỉ mỉ hơn, được mặc bởi Randolph Scott.

 

THE SUIT TROUSER

Sự phát triển tình cờ của những thiết kế quần diễn ra vào những năm 80, khi mà ly quần và suspender (đai giữ quần) quay trở lại những chiếc quần Âu để tô điểm cho phần thắt lưng của người đàn ông. Dù phẳng hay có ly, ly xuôi hay ly ngược, ống bó hay ống rộng, cạp quần cũng nên nằm ở nơi mà waistband sẽ ở giữa eo và hông, đảm bảo sự cân bằng lý tưởng giữa áo và quần.

Dù những chiếc quần không có ly đang quay trở lại, quần của suit ngày nay vẫn có ly đi theo những đường nét của cơ thể, đi qua hông và đùi, hướng xuống phần hẹp bên dưới. Quần có ly trông đẹp hơn (dressier), và phần ly trước tạo sự thoải mái tuyệt vời hơn là những chiếc quần không có ly. Phần hông sẽ mở rộng ra khi người mặc ngồi xuống, ly quần sẽ hỗ trợ tốt hơn cho hành động này.

Thiết kế ly quần cổ điển bao gồm 2 ly ở mỗi bên gần với phần khóa kéo giữa quần- ly sâu hơn nằm gần hơn, và ly còn lại hướng về phía túi quần. Thiết kế này tạo ra sự hỗ trợ giữa hai ly quần với nhau, ly nhỏ hơn sẽ giữ cho ly to hơn luôn đóng kín. Có nhiều hơn hai ly quần sẽ cản trở khả năng hỗ trợ lẫn nhau, và nó đơn giản chỉ còn là một mánh quảng cáo.

 

– HẾT PHẦN III