DRESSING THE MAN: NECKWEAR (CHƯƠNG VIII) – PHẦN IV

  • Series bài dịch từ bản tiếng Anh chính thức của cuốn Dressing the Man, tác giả Alan Flusser; do Dexterlegant thực hiện với sự giúp sức của các cá nhân: Nhân Nguyễn, Nhân Lê.
  • Sách có độ dày 320 trang, phần nội dung chính dự trù là 13 vạn chữ, sẽ được chia ra Post thành nhiều phần theo sự biên tập của Dexterlegant.
  • Dexterlegant xin phép lược bỏ phần Lời mở đầu của cuốn sách và bắt đầu dịch từ chương đầu tiên
  • Bản dịch hướng tới việc bám sát bản gốc nhất có thể, cả về nội dung, hình thức trình bày và hình ảnh minh họa.
  • Đây là bản dịch không chính thức, không được kiểm duyệt bởi tác giả hay bất kỳ cơ quan/ tổ chức có chuyên môn thẩm quyền nào.
  • Dự án này do cá nhân Dexterlegant triển khai, không có bất kỳ mối liên quan nào tới vấn đề phát hành, quảng cáo, biên soạn của tác giả.

 

NECKWEAR

PHẦN IV

 

DOTS AND THE OTHER ALL-OVER NEATS:

Trong những thiết kế đầu tiên của cà vạt in màu trong ăn mặc nam giới, họa tiết chấm bi lớn được coi như là món quà từ thần mặt trời. Song song với những họa tiết hình học nhỏ, chấm bi là sự phục hưng đầu tiên của cà vạt nam. Trước khi được sử dụng dành riêng cho ăn mặc nam giới, phải nhớ tới Sir Thomas Lipton, một doanh nhân thành đạt ở Luân Đôn, và cũng là một tay chơi du thuyền lâu năm, người luôn mang một chiếc nơ màu navy với chấm bi trắng trong trang phục của ông ấy. Chấm bi lớn đã chấn hưng các thể loại của trang phục nam, nhưng nó cũng có sự liên quan tới họa tiết kẻ sọc. Một chiếc cà vạt chấm bi là sự trang trí đầy duyên dáng cho một bộ suit kẻ sọc.

 

 

 

THE PAISLEY:

Bởi vì nguyên bản của nó, với sự trở lại của nền văn minh Babylon và những ảnh hưởng của nó với taste của người Anh, Paisley trở thành một hình ảnh đặc biệt trong thế giới đồ nam. Trong cuộc tranh luận của mình vào những năm 70 ở cuốn Dress for Success, người tư vấn về hình ảnh của New York John Molly cho rằng chắc chắn chiếc cà vạt có “vẻ đẹp của Ivy Langue”, bởi những ấn tượng tốt nó tạo ra về sự nuôi dưỡng và giáo dục. Trong số tất cả những chiếc cà vạt sặc sỡ, ông ấy cho rằng Paisley là loại duy nhất được công nhận như một chiếc “cà vạt vui vẻ” của tầng lớp trung-thượng lưu. Freud thì cho rằng, cà vạt họa tiết Paisley là biểu tượng của sự nam tính. 

Họa tiết Paisley đem đến nhiều cơ hội phối các màu sắc và các sáng kiến với mức độ trang trọng cao, và theo đó là sự phức tạp của nó, dù chỉ với những màu trung tính. Jimmy Stewart thể hiện sự thông thạo trong việc phối họa tiết của mình bằng bộ trang phục được dress-down với sơ mi kẻ sọc, Sportcoat với họa tiết Glen check, và cà vạt thắt Four-in-hand

 

 

CLUB AND SPORTS:

Trong phần mở đầu cuốn sách của mình, Ties, nhà nghiên cứu xuất sắc về lịch sử ăn mặc James Laver đã chỉ ra rằng ứng dụng sớm nhất của những màu sắc thể thao là bởi I Zingari Cricket Club, được sáng lập vào năm 1845 bởi một nhóm sinh viên của Đại học Cambridge, ưa thích các trò chơi và điền kinh. Họ hẹn nhau tại Blenheim Hotel ở Bond Street, thỉnh thoảng, các màu sắc sẽ được chấp nhận để in lên những lá cờ và tung bay trên nóc những gian lều nghỉ của họ trong các trận đấu. Họ chọn màu đen, đỏ sáng, màu vàng để tượng trưng có ý nghĩa “out of darkness, through fire, into light” (thoát khỏi bóng tối, băng qua ngọn lửa, tiến về ánh sáng) Vào năm 1870, khi bắt đầu sử dụng cà vạt, thì tự nhiên nó sẽ có các màu sắc đặc trưng trên.

Một danh mục khác về các mô-típ đặc trưng bắt đầu với sự thay đổi của người Anh là cho phép những chiếc sport tie. Cuộc bùng nổ dân số đầu tiên vào đầu những năm 20, nó đưa ra một bản sao nho nhỏ của các họa tiết có liên quan đến các chủ đề, được in trên nền chất liệu wool. Mỗi chủ đề mang tới cho những người say mê cơ hội để mặc những chiếc cà vạt thể thao nhỏ với biểu tượng, đặc trưng cho vị trí xã hội như là tay chơi polo, golf hay tương tự.

Tưởng nhớ nhà thiết kế người Pháp Henri d’Origuy, người rất thích đua ngựa, và mang những chiếc cà vạt thể thao màu đen trên yên cương mỗi khi ông muốn phá cách với những thiết kế trang phục cưỡi ngựa Hermes của mình trong những năm 50- khi chúng đã trở nên quá nổi tiếng. Ngày nay, những chiếc cà vạt cổ điển của Hermes được mở rộng tới những chủ đề khác, như cây cọ, voi, và bóng bay, được đưa vào theo khắp thế giới, thậm chí trong số những người đàn ông luôn tránh những Form trang phục dễ gây nhầm lẫn. Cùng với đó, những chiếc cà vạt Hermes bản nhỏ được ưa chuộng bất chấp hình thể của người mặc.

 

THE ASCOT:

Ascot là loại necktie có độ trang trọng cao nhất. Cái tên nay xuất phát từ giải đua England’s Ascot, tổ chức hàng năm vào tháng Tư kể từ 1771. Dù nó gắn bó mật thiết hơn với những loại phụ kiện đeo quanh cổ trước thời Four-in-hand, thì Ascot vẫn là một loại phụ kiện được dùng để lấp đầy cho phần trước của áo khoác. Được mặc đặc biệt cho trang phục với độ trang trọng cao vào ban ngày, Ascot thường được làm bằng lụa, màu sắc êm dịu, và theo đó, thỏa mãn những quý ông đang ao ước được phô trương trang sức, và cơ hội để mặc những chiếc Pin với biểu tượng cá nhân- và bằng ngọc trai.

Ngày nay, Ascot được dùng cho ăn mặc trang trọng vào ban ngày, đặc biệt là lễ cưới, và cân nhắc cho những bộ trang phục khi đi săn. Phần thân kèm đầu nhọn được thắt bởi một nút đơn giản, với phần đuôi đi ngang qua phía trước của sơ mi tới phần áo khoác ở trên ngực, cố định một chiếc Pin cài bằng ngọc trai, tốt nhất là chỉ một mà thôi. Một trích dẫn từ 1913 trong Gazette de Bon Ton: “mặc Ascot đúng đắn, đi cùng với sự quý phái từ cử chỉ, sự quyền lực của dáng đi, độ rộng của phần ngực, những tác phong lịch thiệp và vóc dáng tự nhiên là thứ không thể thiếu được”. 

 

 

THE NECKERCHIEF

Từ xưa, những người đàn ông đã thấy được sự cần thiết của việc mặc thứ gì đó quanh cổ của mình. Cùng sự bùng nổ của trang phục thể thao hiện đại vào những năm 20, sự mới mẻ từ phần cổ mở của sport shirt truyền cảm hứng cho rất nhiều món phụ kiện vùng cổ. Với thời trang phổ biến ở những quán rượu châu Âu, những chiếc khăn cổ thể thao đã và đang được nhận thấy rõ ràng hơn với phong cách Riviera. Được thúc đẩy cùng với xu hướng của trang phục thể thao trọng lượng nhẹ, không mất nhiều thời gian để tour de cou bắt đầu xuất hiện ở Mĩ, lan từ phía nam nước Pháp tới thành trì thời trang của Caribbeans.

Hai mẫu cơ bản của phụ kiện ở cổ cho trang phục thể thao bắt đầu thành hình. Thứ phổ biến hơn là neckerchief, một màu hoặc họa tiết, hình vuông bằng lụa, cotton hay các loại chất liệu khác được thắt hay dựng theo Ascot. Thời kỳ đỉnh cao vào giữa những năm 30, bên cạnh những loại trang phục trang trọng, mọi gã dẫn đầu thời trang của Holywood, đều có neckerchief phù hợp với khuôn mặt của họ. Hãy nhìn Cary Grant, anh ấy là người dẫn đầu về hình ảnh người đàn ông lịch lãm, với chiếc neckerchief cài theo kiểu lật ra trước, cài bên dưới chiếc áo polo và áo len cổ tròn, quá đẹp.

 

 

Phong cách khăn quàng thứ hai là neckertie, là một mảnh lụa vuông gấp quanh cổ với phần kết thúc được thắt lỏng với phong cách four-in-hand. Khác hơn với mẫu “odd” của châu âu hay đặc biệt là người Pháp, chiếc ascot bằng lụa được thể thao hóa, thật hiếm có để thấy một người đàn ông mặc một chiếc neckerchief. Với đàn ông, thắt một thứ gì đó quanh cổ có vẻ cầu kỳ, nữ tính, hoặc cả hai. Đây là một nét riêng, khi mà đa phần những người trung niên ở Mĩ lớn lên cùng với việc học theo Roy Rogers và bất kỳ thể loại thiết kế quanh vùng cổ nào của John Wayne, như một điểm nhấn của các tay chơi.

 

 

Khi khăn cổ trong giai đoạn trở lại thời trang của nó, những mẫu mới của trang phục công sở thường ngày có thể trở nên hợp lý hơn. Với phong trào giảm dần việc đeo cà vạt tại môi trường công sở hiện đại, các phụ kiện đeo cổ khác sẽ là giải pháp thay thế tuyệt vời cho ăn mặc chuyên nghiệp

 

- HẾT PHẦN IV