TRUE STYLE: THE HISTORY & PRINCIPLES OF CLASSIC MENSWEAR

Bản dịch

 

  • Series bài dịch từ bản tiếng Anh chính thức của cuốn True Style, tác giả G. Bruce Boyer; do Dexterlegant thực hiện với sự giúp sức của các cá nhân: Nhân Nguyễn, Nhân Lê.
  • Sách có độ dày 252 trang, phần nội dung chính gồm 26 chương, sẽ được chia ra Post thành nhiều phần theo sự biên tập của Dexterlegant.
  • Dexterlegant xin phép lược bỏ phần Lời mở đầu của cuốn sách và bắt đầu dịch từ chương đầu tiên
  • Bản dịch hướng tới việc bám sát bản gốc nhất có thể, cả về nội dung, hình thức trình bày và hình ảnh minh họa.
  • Đây là bản dịch không chính thức, không được kiểm duyệt bởi tác giả hay bất kỳ cơ quan/ tổ chức có chuyên môn thẩm quyền nào.
  • Dự án này do cá nhân Dexterlegant triển khai, không có bất kỳ mối liên quan nào tới vấn đề phát hành, quảng cáo, biên soạn của tác giả.
  • Mọi người truy cập vào facebook page Dexterlegant để like post và page để ủng hộ tinh thần cho nhóm dịch nhé.

CHƯƠNG II: BOOTS

PHẦN I

Hình mình họa: tài tử điện ảnh Clark Gable với cowboy boots

 

Một trong những món đồ thiết thực của người lao động hay những người hay hoạt động ngoài trời – boots – bùng nổ trong làng thời trang vào giữa thế kỷ trước, và sự phổ biến của nó vẫn tiếp tục phát triển. Một vài mẫu boots mang phong cách mới lạ, nhiều mẫu trong số chúng được thiết kế đặc biệt với những mảnh nguyên liệu được khâu và dán vào để cho vẻ ngoài của chúng có sự hầm hố tương tự như mấy anh hùng trong truyện tranh. Và cả những đôi với phong cách vintage: bản nguyên gốc của work boots, engineer boots, cowboy boots, hiking and field boots, và rubber country boots. Chúng là những đôi trail boots có trọng lượng nhẹ và boots đi săn chống nước tốt; những đôi boots để làm việc nặng, bụi bặm với cấu trúc phần mũi bằng kim loại, những đôi boots da bò được xử lý với silicon hay da lợn rừng hoang dã đã được xử lý dầu, những đôi boots cưỡi ngựa của người chăn gia súc, Service boots, chelsea boots, và những đôi boots đồng quê của các quý ông từ da Scotch grain với phần wingtip cùng đế commando. Chippewa, Red Wing, Oak Street, Wolverine, Viberg, Russell, L.L. Bean, Wellington, Rider, R.M.William, Chamonix và hàng tá cái tên khác là những thương hiệu quen thuộc hiện nay trong thị trường bán lẻ, không cần đề cập tới những cái tên như Edward Green, Crockett& Jones, Alden, Church, John Lobb, vân vân

 

Có phải bởi có nhiều người đam mê thể thao hơn là thời kỳ trước? có vẻ là không, dù là có nhiều người hơn mong muốn đưa nét đẹp đặc trưng của outdoor outfit vào phong cách cá nhân. Nhưng đa phần nam giới tìm đến boots như là sự thay thế cho những đôi giày. Và có nhiều phong cách là những di sản lâu đời và vững chắc, ngày nay vẫn hấp dẫn mọi người- những người đam mê với chất lượng của những món đồ thủ công và phong cách của những món đồ vintage. Sự lựa chọn đơn thuần phụ thuộc vào hoàn cảnh mà bạn xây dựng hình ảnh phong cách, đá vài cái lá ở công viên, hay tiếp thêm năng lượng cho cuộc đua marathon ở Appalachian Trail. Một vài đôi sport boots – với những đường bằng nylon nhiều màu sắc, lỗ xỏ dây D-ring, mũi Bumper-style, đế tank-tread, những đường phản quang, và màng thông khí công nghệ cao- rất thoải mái và bền bỉ, ngay cả khi rất nhiều đôi trông giống như được thiết kế bởi một người đã đọc nhiều về boots và giày, nhưng chưa bao giờ thực sự nhìn thấy chúng.

 

Một vài kiểu boots, đa phần nguyên bản của Mĩ, đã đạt đến đỉnh cao của độ phủ sóng. Những đôi motorcycle boots bằng da bò đen được phổ biến với thanh niên từ những năm 1950, khi Marlon Brando đi vào thành phố với một đôi như vậy trong phim The Wild One-1953, và James Dean đi lang thang với chúng trong Rebel Without a Cause hai năm sau đó. Bây giờ, chúng là một mảnh ghép quyền lực của bất kỳ bộ sưu tập nào, là một sự hưởng ứng của thời trang khi mà phong cách gắn liền với sự hữu ích. Có một điều mang tính huyền ảo quanh những đôi boots này, và như nhà nghiên cứu lịch sử nghệ thuật Sir Kenneth Clark ghi chép về những truyền thuyết, chúng không chết một cách đột ngột; mà đi xuyên qua thời kỳ “nghỉ hưu đáng kính trọng”, và tiếp tục công phá mạnh mẽ trí tưởng tượng của chúng ta. Chúng trở nên thanh thoát hơn như cách chúng đã đi từ nguyên bản tới thời trang.

 

Trong những bộ sưu tập, nhiều đôi boots dùng cho công nhân trở thành một món đồ thời trang, nhưng không có chút gì gọi là bóng bẩy hay thẩm mĩ ở nguyên bản của nó. Thực tế, nó đồng hành cùng với những chiếc Harley- Davidson khổng lồ, trở thành đôi giày đầu tiên trông thực sự “cool” trong danh danh sách này. Mẫu độc quyền nên được gọi nghiêm chỉnh là Engineer boots, vì nó được thiết kế ban đầu cho công nhân đường sắt. Dày dặn và cứng cáp, engineer boots được làm từ da bò nhuộm đen, dày và cứng, mặt trên không được cắt chật và thẳng như cowboy boots, nhưng được làm loe ra phía trên với phần trên được làm chéo, và có thể được thắt lại chặt hơn tại cổ chân bằng một đai có khóa (đôi khi là trang trí với khuy kim loại). Phần đế làm bằng da dày, gót cao khoảng 4,5cm, được cắt xéo nhẹ phía trước, và phần cạnh được làm lõm. Người làm giày sẽ thêm vào phần chêm hình bán nguyệt bằng kim loại cho phần gót. Những đôt boots này là loại trông mạnh mẽ, trọng lượng vào khoảng 1 pound (445g) cho mỗi chân, khi đeo chúng đòi hỏi một sự khoa trương trong phong cách. Đây là món đồ phù hợp để phối với motorcycle jacket da đen, quần Jean ống cuộn và cuff cao, T-shirt vừa form (đừng có logo hay thông điệp gì, làm ơn), và kiểu tóc D.A (“duck’s ass). Hình ảnh tổng thể như một siêu anh hùng- một nguyên mẫu sớm được xây dựng với mối liên quan chặt chẽ của tới những tên tội phạm thiếu niên, như trong phim Blackboard Jungle, đặc trưng bởi Brando và Dean, và vài người khác ít được nhớ đến ngày nay.

 

Cũng xuất hiện vào những năm 50 là những đôi work boots: một ví dụ cổ điển khác về xu hướng của thời trang hiện đại để phát triển từ thấp cho đến cao- không phải là từ đỉnh của bậc thang xã hội đi xuống, như nó luôn làm. Đôi boot này, được mặc đa phần với phiên bản cấu trúc đầy phong cách của nó (ví dụ, những đôi boot của công nhân xây dựng), được đưa lên bởi người được gọi là Beatnik và những tri thức cánh tả mang phong cách bình dân khác. Nhà soạn kịch và thơ, từ Arthur Miller và Allen Ginsberg tới Jack Kerouac và Gregory Corso đều đeo đôi boots xây dựng, bằng da màu cam nhạt với đế cao su màu kem và dây buộc dày dặn.

 

Như một món đồ công nhân, mang trở lại phong thái và lời kêu gọi cho những người trẻ nổi loạn đầy giận dữ của Beat Generation. Nó là phong cách của anh hùng tầng lớp dưới, những công nhân nổi dậy. Đôi boot được mua trong các cửa hàng của quân đội và hải quân khắp nước Mĩ, cùng với những chiếc áo công nhân bằng chambray màu xanh dương và khaki, áo T-shirt màu olive, bomber jacket bằng da, và thắt lưng bằng da garrison dày. Món đồ này rẻ và chất lượng tốt, và hàng tấn sản phẩm đã được làm ra từ Thế chiến thứ 2 cho tới Chiến tranh Triều Tiên. Nó được thấy ở những quầy hàng của Manhattan’s Stand Bookstore, hay bên những kệ sách của Thư viện đại học Colombia, hay trong khuôn viên của Đại học California, Berkeley, trong những quán cà phê của Ann Arbor, cũng như trong các câu lạc bộ ở Greenwich Village và hiệu sách ở North Beach, và bất kỳ nơi đâu mà những người trẻ tuổi quyết định vượt qua những thứ mà họ cho là nhạt nhẽo và sự ngột ngạt chán ngắt, bằng cách trở nên ngầu hơn, tự chủ, và buông thả.

 

Những đôi cowboy boot lại là một sự phản chiếu khác của xu hướng thời trang hiện đại bắt đầu từ thấp đến cao. Tổ tiên của nó vốn được mang bởi các chỉ huy kị binh của quân đội Mĩ từ trước thời Nội Chiến, và những người chăn thả Spanish (trans: thường hiểu là người Tây Ban Nha, nhưng ở Mỹ từ này còn dùng chỉ chung những người nói tiếng Tây Ban Nha, trong đó có người Mexico – dân tộc nhập cư đông nhất ở Mỹ) – chăn nuôi giống gia súc sừng dài trên vùng đất phía bắc của Rio Grande đã mặc những đôi boot được trang trí bằng những chiếc móc sắt. Khi những người chăn thả đầy kinh nghiệm này tiến vào vùng đất trung tâm châu Mĩ, họ được giúp đỡ bởi những sĩ quan quân đội Hoa Kỳ, và phong cách này cũng tương tự như vậy. Sau cuộc Nội chiến, đàn ông từ phía đông và phía nam bắt đầu tiến về miền Tây để tìm kiếm những cuộc phiêu lưu, hay đơn thuần là để kiếm sống. Vài người kiếm được một công việc là chăn nuôi những bầy gia súc tại vùng đất mới được khai phá của Texas, những người này đóng góp cho việc tạo ra một hình ảnh chấn động, anh hùng của nước Mĩ: những chàng Cao Bồi (cowboy).

 

Hình tượng này thực sự đáng để phân tích kỹ hơn một chút, bởi sự ảnh hưởng của nó đã trở nên phổ biến trong lịch sử nước Mĩ sau đó. Thời kỳ đầy sắc màu này, trong ba mươi lẻ mấy năm, là thời kỳ của những “chuyến đi dài”, khi hàng ngàn đàn gia súc sừng dài được đưa từ Nam Texas tới Wichita và Abilene, Kansas, dọc theo Chisholm Trail huyền thoại, được miêu tả một cách sống động trong những bản anh hùng ca của Hollywood như Stagecoach (John Ford, 1939) và Red River (Howard Hawks, 1948). Hầu như tất cả mọi truyền thuyết lãng mạn- và trang phục- của các chàng cao bồi được tạo nên từ sự mạo hiểm độc đáo này. Các nông trại trở thành địa điểm nghỉ mát phổ biến cho du khách trong những năm 1930, và những bộ phim về cao bồi của Hollywood trong những năm 1940 đã xây dựng nên những ký ức cho những truyền thuyết và những câu chuyện viễn tưởng về miền Tây. Ảnh hưởng cụ thể là “singing cowboy”, những bộ phim ghi dấu những ngôi sao như Roy Roger, Gene Autry, Tex Ritter và Rex Allen, đánh bại những kẻ xấu đội mũ đen, hôn những cô gái và cưỡi ngựa đi về phía hoàng hôn, hát những bài hát về vẻ đẹp của cây đan sâm (trans: 1 loại cây cùng họ Cúc sinh trưởng ở Bắc Mỹ). Chiếc mũ Cao Bồi và đôi boot sặc sỡ đã trở nên phổ biến cho những ngôi sao nhạc đồng quê.

 

Trên thực tế, cuộc sống của những chàng Cao Bồi đường dài rất cô độc và gian truân, và trang phục của anh ấy cũng được thiết kế để bảo hộ dựa trên những kinh nghiệm đầy khốn khó, dù không thực sự thoải mái khi mặc. Chiếc mũ rộng vành và dải băng cotton giúp che chắn cho anh ấy khỏi mặt trời thiêu đốt và bụi mù, trong khi găng tay da và chiếc quần bằng da dùng để đối chọi với ngựa, dây thừng và cây đan sâm. Đôi boot của anh ấy là sự lựa chọn đặc biệt, được cho là quan trọng và đắt giá nhất, theo sau đó là khẩu súng và bộ yên cương. Tới những năm 1800 những đôi cowboy boot miền Tây đã thực sự tiến hóa thành những gì mà chúng ta thấy ở mẫu ngày nay: gót cao (khoảng 5cm) để ngăn việc bị trượt khỏi bàn đạp yên cương, được đẽo nhọn và có hình dáng giúp nhấn mạnh xuống đất như một đai giữ dây giữ bò, phần lòng bàn chân được làm cao và chặt, mũi nhọn giúp đưa chân vào bàn đạp yên cương dễ dàng hơn và giữ chân đỡ mệt mỏi hơn. Phần trên của đôi boot được cắt thẳng dưới đầu gối và làm bằng da để bảo vệ chân khỏi mồ hôi của ngựa, gai xương rồng, rắn cắn, móng guốc của gia súc và hàng tá hiểm nguy xung quanh.

 

 

  • HẾT PHẦN 1