• Series bài dịch từ bản tiếng Anh chính thức của cuốn True Style, tác giả G. Bruce Boyer; do Dexterlegant thực hiện với sự giúp sức của các cá nhân: Nhân Nguyễn, Nhân Lê.
  • Sách có độ dày 252 trang, phần nội dung chính gồm 26 chương, sẽ được chia ra Post thành nhiều phần theo sự biên tập của Dexterlegant.
  • Dexterlegant xin phép lược bỏ phần Lời mở đầu của cuốn sách và bắt đầu dịch từ chương đầu tiên
  • Bản dịch hướng tới việc bám sát bản gốc nhất có thể, cả về nội dung, hình thức trình bày và hình ảnh minh họa.
  • Đây là bản dịch không chính thức, không được kiểm duyệt bởi tác giả hay bất kỳ cơ quan/ tổ chức có chuyên môn thẩm quyền nào.
  • Dự án này do cá nhân Dexterlegant triển khai, không có bất kỳ mối liên quan nào tới vấn đề phát hành, quảng cáo, biên soạn của tác giả.
  • Mọi người truy cập vào facebook page Dexterlegant để like post và page để ủng hộ tinh thần cho nhóm dịch nhé.

CHƯƠNG II: BOOTS

PHẦN II

 

– Hình minh họa: Diễn viên nổi tiếng James Dean đeo một đôi Cowboy boots
Trên thực tế, ở thời hiện đại, khi những mối hiểm nguy này mất đi, thì boot chỉ còn mang tính chất trang trí. Bởi những tiêu chuẩn ngày nay, nó đã biến đổi theo dòng chảy tự nhiên. Chính xác từ khi nào mà những đôi boot sặc sỡ kia bắt đầu những bước đi thanh thoát trên vỉa hè thì thật là khó nói; nhưng sự tinh giảm tất yếu khi các hoạt động thể thao và giải trí bắt đầu thường được coi là nguyên nhân của quá trình này. Với sự phát triển của ngành đường sắt, những chuyến đi dài ngày là không cần thiết, và những chàng cao bồi của Chishlom Trail đã đi vào lịch sử, thơ ca và huyền thoại. Nhưng sự suy tàn của những chuyến đi xa đánh dấu cho sự bắt đầu của những chàng cao bồi trong làng giải trí. Bắt đầu từ những năm 1880 với Buck Taylor, vị vua đầu tiên của những chàng cao bồi, người làm việc cùng đoàn kịch Buffalo Bill, và xuất hiện sớm nhất trong những bộ phim về miền Tây của William S. Hart, Broncho Billy Anderson, và Tom Mix; những chàng cao bồi “sặc sỡ” đã ra đời. Anh ấy cưỡi một con ngựa, đẹp và được trang bị tốt (thường kèm theo một cái tên đáng yêu), mặc bộ đồ bóng bẩy, chơi được một chút guitar và hát cho một cô gái trong sáng thuần khiết. Trong thế giới của anh ấy, chỉ có một yếu tố đơn giản chính là quy tắc đạo đức của anh ấy: ghét những kẻ xấu xa cùng những điều bất công, và biết chính xác điều anh cần làm khi tìm thấy chúng.
Diễn viên người Mĩ Tom Mix là người đâu tiên hóa thân thành một người tốt bụng với chiếc mũ trắng và nhanh chóng đưa chiếc mũ này tiến xa bằng cách mặc nguyên bộ đồ trắng- bộ trang phục không có lợi ích hoàn hảo gì cho việc chăn thả gia súc. Không phải là đôi boots của anh ấy chưa từng chạm vào bãi cỏ, đương nhiên: dù anh ấy chiến đấu với những kẻ liều mạng hay chiếm được trái tim thuần khiết của một cô giáo địa phương, anh ấy luôn mặc một đôi boots thủ công mới nguyên bằng da mềm hay da kỳ đà, với những hình xoắn ốc nhiều màu sắc, đường chỉ khâu phức tạp và những đường khắc trang trí. Những thiết kế này được làm viền với khuy bạc hay đá quý. Khi Mix có thể trở nên vẻ vang hơn với việc phổ biến hình ảnh của những đôi cowboy boots thạch anh, anh ấy bị theo dõi bởi hàng tá những tay súng sặc sỡ và nhanh tay khác (fancy-and-fast-shootin’), những người tốt mũ trắng, vẽ những ngôi sao 5 cánh Gibson và Martin gọn gàng như khẩu Colt khảm ngọc trai của họ.
Roy RogerGene Autry– những chàng “singing cowboy” được biết đến nhiều nhất- mặc một trong những bộ trang phục đẹp nhất mà các anh hùng người Mĩ thường mặc: Crimson shirt với cầu vai lavender cùng cuff, quần bó kẻ sọc với túi trên có viền và đỉa quần có hình huy hiệu, thắt lưng da làm tay với khóa bạc chạm khắc, khăn lụa nhiều màu sắc, mũ rộng vành màu ngọc lam, và tất nhiên là đôi boots với những thiết kế độc đáo đến mức khó tưởng. Đôi boots của họ đặc trưng bởi hình ảnh chạm khắc của hoa cỏ hay chim chóc, họa tiết Aztec, ngôi sao hay ánh mặt trời, trăng lưỡi liềm, đầu thú sừng dài, đại bàng tung cánh, ngọn lửa, con rắn, bộ bài, cây xương rồng, con bướm, những chữ cái viết tắt và bất cứ thứ gì mà chàng cao bồi có thể lựa chọn trong chuyến đi của mình. Họa tiết đục lỗ được khắc lên trên mũi giày, phần trên được trang trí kiểu vỏ sò, và có phần pull tab. Nếu đem so sánh với thời đó, thì hình tượng anh hùng trong các film ảnh hiện tại, chẳng khác nào những anh chàng gà mờ luộm thuộm.
Boot với màu xám lông bồ câu và vàng bơ, xanh dương phấn và màu cam cháy nắng, màu như chim công và ngọc lục bảo, đen và đỏ cherry, nâu của quả óc chó và màu kem, xanh lá và bạc- tất cả những thiết kế đặc sắc nhất và những tay thợ lành nghề vô song chẳng phải là hiếm trong thời đại của những chàng singing cowboy. Khâu lên những chữ cái viết tắt là trò trẻ con so với sự vương giả hay lộng lẫy là của da đà điểu, được trang trí với cây hoa hồng hay đôi boot đại bàng tung cánh màu đỏ, trắng và xanh dương được mặc bởi Roy Rogers. Cuối những năm 1940 công ty Lucchese Boot của San Antonio làm 48 đôi cowboy boot, mỗi đôi là một sự khác biệt với hình ảnh tòa nhà quốc hội, bông hoa, con chim, và tên của mỗi bang trong liên bang. Series boot này vẫn được coi là hình ảnh thu nhỏ của nghệ thuật từ nhà làm boot huyền thoại Texas.
Đầu những năm 1960, những học viện của nước Mĩ trải qua sự bùng nổ của thứ được gọi (một cách thuận tiện) là “Frye fever”. Công ty giày John A. Frye được thành lập vào năm 1863 ở Marlborough, Massachusetts; và cũng giống như danh tiếng của nó bây giờ, vào năm 60, họ có những đôi boot làm cho những người lính và phi công chiến đấu suốt Thế chiến thứ hai. Nhưng đôi boot nổi tiếng nhất của công ty được dựa trên một thiết kế cũ hơn của cái được gọi bằng thuật ngữ “Harness boot”: phần mũi nhỏ, bẹt và hếch lên, gót thô, đế kép, phần trên được cắt cao- thẳng với đai da và vòng bằng đồng vắt ngang qua phần mu chân đặc biệt nặng, da thuộc dầu và có màu da cam. Nó là đôi work boot ngắn, cơ bản, tự nhiên, bằng da thô; và bắt đầu từ 50 năm trước nó đã đạt được vẻ đẹp thời đại, trở nên phổ biến hơn bởi những người cảm thấy không hợp với cowboy boot. Hàng chục ngàn những đôi boot này được mặc bởi nam nữ thanh niên suốt những năm 70 và 80 như sự hưởng ứng của dân thành thị cho những đôi giày công nhân.
Có hai đôi boot khác cũng được đề cập ở đây: Desert boot cổ điển và Maine duck boots. Đầu tiên là sự biến hóa của đôi boot bằng da thô, đơn giản, cắt thấp được tìm thấy trong nhiều nền văn hóa khác nhau. Nó được làm từ phần đế và 2 mảnh da: phần trước bao gồm mu giày, phần mũi (vamp) và lưỡi gà, và một mảnh quấn quanh, cao ngang cổ chân đóng vai trò như phần bên và sau của đôi boot. Phong cách này đôi khi được gọi là chukka boot vì nó được cho là sử dụng lần đầu tiên bởi những tay chơi Polo ở Ấn Độ (trong polo, “chukka” là từ để chỉ một hiệp đấu)
Desert boot mà chúng ta biết đến ngày nay được làm đầu tiên bởi thương hiệu làm giày Ailen là Clark. Nathan Clark, con trai của người sáng lập ra thương hiệu này, là một người lính trong thế chiến II và chú ý đầu tiên đến những đôi boot được mặc bởi sĩ quan Quân đoàn số 8 Anh Quốc suốt thời gian đóng quân của họ. những đôi boot thô sơ, không phô trương này được mua trong những khu chợ ở Cairo, sau chiến dịch Bắc Phi- nơi mà chỉ huy quân Anh Bernard Montgomery cuối cùng đã đánh bại quân đoàn Panzer châu phi tại trận chiến thứ hai ở El Alamein. Nathan Clark mua cho anh ấy một đôi, và sau khi giải ngũ trở về nhà, anh đã thuyết phục bố mình sản xuất đôi boot đó quy mô nhỏ với 2 phần cơ bản, cấu trúc 4 lỗ xỏ dây, dùng da lộn và đế Crepe mà cậu trẻ nhà Clark đã thấy ở nước ngoài.
Clarks trưng bày mẫu này ở Chicago Shoe Fair vào năm 1940 và nó trở thành hit ngay lập tức. trong nửa thập kỷ tiếp theo đôi boot này được phổ biến rộng rãi, mặc bởi những tay hipster trẻ tuổi và sinh viên đại học. nó thường được kết hợp với một món đồ khác từ thời chiến của Anh: chiếc áo Gloverall duffle coat ông thường mặc khi chụp ảnh. Những gã hipster mặc đôi boot này với quần Drainpipe (một loại quần bó rất sát) và đôi khi nhuộm màu nâu đậm hay đen bằng xi đánh giày. Điều đó trở nên không cần thiết bởi Clarks ngày nay làm đôi boot này với cả những màu đó, nhưng vẫn dùng da lộn. Đôi boot trở nên thoải mái, giá thấp, thành đôi giày casual nhận được sự đón nhận toàn cầu.
Và cuối cùng chúng ta tới với Leon Leonwood Bean, người sáng lập của L.L. Bean, và đôi duck boot nổi tiếng của ông. Bean là một người Mĩ nguyên bản: doanh nhân, vận động viên thể thao New England thực thụ, một nhà sáng chế đã đưa ra nhiều quyết định thực tế về xu hướng. Chuyện rằng ông ấy rất thích đi săn ở các đầm lầy quanh nhà ông ở Brunswick, Maine, và mặc đôi boot đi săn bằng da thuộc dầu truyền thống. Không may rằng đôi boot này không chống được nước quá lâu, và L.L thường về nhà vào cuối ngày với bàn chân lạnh và ướt. Ông đã suy nghĩ để giải quyết vấn đề này và cuối cùng đi đến một ý tưởng là khâu phần da mặt vào một đôi giày cao su. Năm 1912, sau một vài nỗ lực, ông đã làm được một mẫu giày hoạt động tốt. Ông gọi nó là “Maine hunting shoe” và tạo ra một công việc kinh doanh nhỏ từ nó.
Dù không cần phải nói, thì đôi boot biểu tượng này- bây giờ thường được gọi là “duck boot”, với hàng chục sự mô phỏng- như là một lời tuyên bố về thời trang đích thực, mặc trong trường học, đường băng, và trên đường phố toàn thế giới, cũng như là đầm lầy ở New England. Theo trang web của công ty, doanh số của duck boot đạt nửa triệu đôi vào dịp kỷ kiệm thứ 100 của họ vào năm 2012. Ngày nay, L. L. Bean bán với nhiều màu sắc và chất liệu khác nhau, một vài với Gore-Tex, Thinsulate, hay lớp lót, nhưng tất cả chúng, cho đến bây giờ, vẫn như lời người ta nói, “làm ở Maine từng đôi một”
HẾT CHƯƠNG II