CHƯƠNG X: EYEWEAR
Phần 1
          Để tôi nhắc lại một chuyện rõ như ban ngày: những cặp kính đã trở nên phổ biến vào năm 1965. Tôi không được thêm lợi ích gi khi nói điều này, nó đơn thuần là sự thật.
          Có lẽ tôi nên giải thích. Và hãy làm điều đó bằng cách đặt một câu hỏi đơn giản: Từ khi nào mà những ngôi sao điện ảnh bắt đầu mang kính? Tôi có nói về họ giống như những nam anh hùng hay những nữ chiến binh? Tất cả chúng ta đều đồng tình, như một nét văn hóa, những người nổi tiếng cần có một dấu ấn, được tạo ra bởi những lời nhận xét; góc nhìn cá nhân này là một cách thức công bằng xuất sắc để tiếp cận bất kỳ một xu hướng nào. Vậy hãy để tôi gợi lại ký ức của bạn. Đó là vào năm 1965, với bộ phim có tên The Ipcress File, và một ngôi sao là Michael Caine, vào vai điệp viên của Len Deighton, Harry Palmer. Caine đã rất thành công với vai diễn này, với cặp kính màu đen bằng nhựa phong cách Wayfarer, mà ông ấy đã sử dụng lại nó vào năm sau với Funeral in Berlin. Nhà phê bình điện ảnh David Thomas đã nói về vai diễn của Caine: “thật sự lạnh lùng và kiên định như cặp kính của anh ta”, nhưng công chúng có vẻ yêu thích nó, và Caine tiếp tục làm nên Alfie, The Wrong Box, The Italian Job, Get Carter, The Man Who Would Be King, Hannah and Her Sister, Mona Lisa, Noises Off, Little Voice, và The Quiet American – cái tên yêu thích của tôi. Ông là một trong những người đạt được thành công lâu dài nhất trong điện ảnh. Trên thực tế, chỉ có duy nhất một ngôi sao khác đã mang kính trước cả Caine là diễn viên hài phim câm Harold Lloyd, và bộ phim tuyệt vời nhất của ông được làm trước cả khi Caine được sinh ra.
          Caine, với phần hông của mình, chất giọng của đàn ông Cockney và những bộ suit từ mohair sắc như dao cạo từ nhà may lừng danh Doug Hayward, dường như đã tạo ra tiền lệ cho những người đàn ông trẻ tuổi trở nên ngầu hơn khi mang kính, và chắc chắn là những người nổi tiếng thích mang kính, dù là nam hay nữ, cũng đã đi theo ông. Không cần phải đề cập đến những người nổi tiếng đã dùng kính mắt như là một dấu ấn đặc trưng cho bản thân: Woody Allen, Yves St. Laurent, David Hockney, Anna Wintour, Andy Warhol, Johnny Deep, và Le Corbusier. Ngay đến Brad Pitt cũng được chụp ảnh khi đang mang một cặp kính lớn hình chữ nhật! (Hãy thử nghĩ xem những người này còn điểm chung nào khác không).
          Rất nhiều người yêu thích thời trang khác, mặt khác, ưa thích những gọng kính nhỏ và tròn, là món phụ kiện thích hợp với vẻ bề ngoài mang nét gì đó phong hóa: Nerd chic, Vintage chic, prairie chic, heritage chic, utility workers chic, và tất nhiên là Preppy chic (trans: từ “chic” thường được hiểu là nét đẹp hợp thời trang). Đùa chút thôi, cách tiếp cận theo hướng phong cách retro của những cặp kính, trông có vẻ như đang chạy song song với phong cách đối lập của nó – không có vành, làm từ titanium, làm với công nghệ siêu âm, công nghệ cao, những kiểu được dùng cho các tay đua xe, bóng như là một chiếc Porsche. Trên thực tế. nếu tôi không lầm, thì có hẳn một thương hiệu của Porsche về làm kính, phù hợp với những lời mô tả trên đây.
          Tất cả những điều đó là đủ để làm ai đó phải băn khoăn là cách tiếp cận trái ngược kia có thể tồn tại được trong thời trang tại cùng thời điểm. tôi nghĩ sự tương đồng của thể loại hoài cổ và cách tân chính là mục tiêu tạo nên sự nghiêm túc cho những chiếc kính. Một người suy nghĩ sâu sắc tương phản với một người hành động mạnh mẽ? Có lẽ- nhưng để hiểu đúng về hiện tượng này, hay trở lại trước những năm 1965. Luôn luôn là điều đúng đắn khi rời khỏi hiện tại và tìm hiểu sự thật khi nó vừa bắt đầu.
          Dường như khái niệm đầu tiên về những chiếc kính được công nhận là viết bởi nhà thiên văn học và toán học người Ả Rập có tên là Abu Ali al-Hasan ibn al_Haitham, được biết đến với cái tên tiếng Anh là Alhazen. Phần bảy của cuốn Treasury on Optics của ông được hoàn thành ở Ai cập vào năm 1021 và được biết đến ở phương Tây sau khi nó được dịch qua tiếng Latin vào năm 1240. Những kinh nghiệm của Alhazen đã được quan tâm với những đặc tính của kính để giúp cho món đồ này xuất hiện rộng rãi hơn. Lần cuối cùng mà kính và những quả cầu pha lê được dùng như là “reading stone” là vào thời Trung cổ, thứ sau này được gọi một cách đơn giản là “kính lúp”
          Tới cuối thế kỷ 13 thì những cái máy thổi thủy tinh ở Venetian đã có thể mài những mảnh đá này thành những thấu kính và gắn chúng lên gương mặt bằng những cái gọng bằng gỗ- được gọi là những cái khung có cầu nối, giống như những chiếc kính mắt ngày nay, nhưng không có phần Temple bar để giữ gọng kính với hai tai. Không có quá nhiều vấn đề trong việc đọc sách ở thời gian này, trong khi đa phần người dân là mù chữ, nhưng nó trở nên đặc biệt quan trọng từ sau năm 1455, khi Johannes Gutenberg lần đầu tiên có thể sản xuất được những quyển sách sử dụng máy đánh chữ động, làm tăng lượng tài liệu đọc. Giữa thời điểm đó và thế kỷ 16, từ Anh Quốc tới Trung Hoa, kính mắt được phát triển để đưa vào sử dụng rộng rãi. Những cái gọng đầu tiên được gắn một cách đơn giản vào khuôn mặt của chúng ta với những dải ruy băng, và sau đó là những thanh ở hai bên sẽ được dùng để thay thế cho những dải ruy băng. Những chiếc kính cầm tay- với phần gọng kính được cầm ở trên tay- được thiết kế bởi một người Anh có tên là George Adams khoảng năm 1780 và trở nên phổ biến trong suốt thời kỳ Nhiếp Chính- thời kỳ hoàng kim của các dandy. Những chiếc kính một mắt cũng theo sát đó, như chiếc kính của các điệp viên hay những chiếc kính dùng trong Opera (chủ nhân của chúng đã được thể hiện ở trong tên gọi).
          Bên cạnh những phong cách của kính mắt là sự phổ biến mạnh mẽ của những chiếc gọng kính có phần gọng bên “temple”, tới năm 1800 thì được làm bằng đồi mồi, sừng, bạc, vàng, đồng và niken. Pince-nez cũng xuất hiện vào khoảng thời gian này, nhưng mãi tới thế kỷ 20 thì nó mới có sự tương đồng với những mẫu hiện đại ngày nay, và những chiếc kính gọng bên “temple” đã thắng thế.
          Phần lớn những năm 1900 được dành để hoàn thiện và làm phong phú thêm cho thiết kế này. Vào những năm 1930, chiếc gọng kính bằng nhựa tổng hợp đầu tiên được sản xuất, và được dùng để làm gọng kính. ở Đức, công ty Carl Zeiss phát triển mẫu kính “perivist” với hình dáng gọng kính chúng ta đa phần nhìn thấy ngày nay: phần temple (tạm dịch là gọng hai bên) được nối với phía trên của phần trước, hơn là ở chính giữa như những mẫu trước đó. Và sau đó, vào năm 1937, công ty Bausch& Lomb từ Mĩ đã giới thiệu hình dạng kính aviator phổ biến ngay nay, đặc biệt thiết kế cho những phi công lái máy bay.
          Kể từ thời điểm đó, thì mỗi một thời kỳ có vẻ như đều tạo ra được một thiết kế mang nét đặc trưng riêng. Hoặc có lẽ sẽ tốt hơn khi nói rằng có hai hình dáng đặc trưng đối lập với nhau. Kính mắt gọng đồi mồi, đôi khi được biết đến như là làm bằng sừng- dù cả hai thuật ngữ đều là hiểu nhầm bởi nhựa đã được dùng trong khoảng thời gian này- vì sự phổ biến của các trường đại học vào những năm 1940s và kế tiếp đó là Ivy League vào những năm 1950s (xem chương 14). Chúng thường có hình tròn hoặc oval. Nhưng đối lập nó chính là những chiếc gọng màu đen bằng nhựa cứng có liên quan đến những giám đốc quảng cáo ở Madison Avenue (ngày nay hãy nghĩ đến Woody Allen) với hình chữ nhật.
  • Hết phần 1
_______________________________________________________________________
– Series bài dịch từ bản tiếng Anh chính thức của cuốn True Style, tác giả G. Bruce Boyer; do Dexterlegant thực hiện với sự giúp sức của: Nhân Nguyễn
– Sách có độ dày 252 trang, phần nội dung chính gồm 26 chương, sẽ được chia ra Post thành nhiều phần theo sự biên tập của Dexterlegant.
– Dexterlegant xin phép lược bỏ phần Lời mở đầu của cuốn sách và bắt đầu dịch từ chương đầu tiên
– Bản dịch hướng tới việc bám sát bản gốc nhất có thể, cả về nội dung, hình thức trình bày và hình ảnh minh họa.
– Đây là bản dịch không chính thức, không được kiểm duyệt bởi tác giả hay bất kỳ cơ quan/ tổ chức có chuyên môn thẩm quyền nào.
– Dự án này do cá nhân Dexterlegant triển khai, không có bất kỳ mối liên quan nào tới vấn đề phát hành, quảng cáo, biên soạn của tác giả.
– Mọi người truy cập vào facebook page Dexterlegant để like post và page để ủng hộ tinh thần cho nhóm dịch nhé.